|
1. Hiện trạng khai thác tôm hùm giống Bình Định có 134 km bờ biển với nhiều rạn đá san hô, bãi đá ngầm là nơi trú ngụ thích hợp cho tôm hùm ở giai đoạn con non. Nghề khai thác tôm hùm giống ở Bình Định mới phát triển, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và truyền miệng, bắt đầu khai thác từ năm 1999 và phát triển nhanh từ năm 2002 đến nay. Ngư dân khai thác chủ yếu ở 5 huyện, thành phố với 13 vùng khai thác chính là thành phố Quy Nhơn (xã Nhơn Hải, Nhơn Châu, Nhơn Lý, Ghềnh Ráng, Hải Cảng), huyện Phù Cát (xã Cát Hải, Cát Tiến, Cát Khánh), huyện Phù Mỹ (xã Mỹ Thọ, Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Thắng, Mỹ Đức), nhưng tập trung và sản lượng lớn là xã Nhơn Hải, Cát Tiến, phường Ghềnh Ráng. Hàng năm khai thác hơn 200.000 tôm giống và sản lượng khai thác không đồng nhất. Năm 2006 là 520.000 con, thu nhập trên 78 tỷ đồng. Năm 2007, số lượng tôm hùm giống khai thác là 195.000 con, thu nhập trên 38 tỷ đồng, năm 2008 là 455.000 con (45 tỷ đồng), năm 2009 là 850.000 (68 tỷ đồng). Năm 2010 sản lượng tôm khai thác giảm một cách đáng kể là 135.000 con, thu nhập 27 tỷ đồng.  Mô hình nuôi tôm hùm ở Nhơn Hải-TP Quy Nhơn Nghề khai thác và ương nuôi tôm hùm hiện đã trở thành nguồn thu nhập chính của đa số hộ ngư dân không có đều kiện khai thác xa bờ. Chỉ tính riêng tại 7 xã, phường trọng điểm đã có 1.369 phương tiện với 1.745 hộ tham gia. Theo số liệu của Chi cục BVNLTS Bình Định, tính đến ngày 31.12.2008, toàn tỉnh có khoảng 1.659 tàu thuyền tham gia khai thác tôm hùm giống phân bố tại các huyện, TP Quy Nhơn, Tuy Phước, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Phù Cát với các loại nghề: mành, mành tôm, mành trũ, lưới tôm, mành đèn, lặn tôm và mành tè. Trong đó mành tôm (nghề chính để khai thác tôm hùm) có 847 tàu tham gia, riêng thành phố Quy Nhơn có 543 tàu, chiếm 63% lượng tàu làm nghề mành tôm trong toàn tỉnh. Tàu thuyền khai thác tôm hùm giống tập trung nhiều nhất là xã Nhơn Hải - TP Quy Nhơn (430 tàu). Ngư trường có số lượng tàu thuyền tập trung khai thác là vùng ven biển Quy Nhơn (1.033 tàu/1.369 tàu) chiếm 75,5% tàu thuyền khai thác trên toàn tỉnh. Mật độ tàu thuyền khai thác tôm hùm trên một đơn vị diện tích bình quân trong toàn tỉnh là 50,85. Ngư trường khai thác tôm hùm giống tại Bình Định gồm 7 điểm chính: Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Châu, Ghềnh Ráng, Mỹ Thọ, Hoài Mỹ, Cát Hải trải dọc theo vùng nước ven bờ với độ sâu phổ biến từ 20-30m, vùng khai thác cách bờ từ 1.000m - 1.500m trở vào. Vùng có mật độ tôm hùm giống cao tập trung quanh các khu vực gần rạn san hô. Kết quả phân tích của Viện Nghiên cứu NTTS III cho thấy nền đáy tại các vùng khai thác tôm hùm chủ yếu là thành phần cát (85-90%), cát bùn. Mùa vụ khai thác từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, sản lượng nhiều từ tháng 1 – 3. Các loài tôm hùm giống khai thác bao gồm: tôm hùm bông Panulirus ornatus (80 - 90%), tôm hùm xanh P.homarus (15 – 18%), tôm hùm đỏ P.longipes và tôm hùm sỏi P.stimpsoni (2–5%). Kỹ thuật khai thác, lưu giữ và vận chuyển tôm hùm giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, vì vậy chất lượng con giống khai thác còn thấp, tôm yếu và tỷ lệ hao hụt cao. Có 3 hình thức khai thác tôm hùm giống chủ yếu là khai thác bằng mành, bằng bẩy chà và bằng lặn. Trong đó, (1) hình thức khai thác bằng mành được hầu hết ngư dân ven biển áp dụng. Nghề này tận dùng thuyền và mành ruốc để khai thác, khi hết mùa khai thác tôm hùm giống ngư dân chuyển sang nghề ruốc. Khai thác bằng mành thường đạt sản lượng tôm hùm giống lớn, thường có khoảng 5–100 con/đêm, có những chiếc cá biệt thu được 150 con/đêm. Tuy nhiên do mắc lưới nhỏ (<0,5 mm) đã khai thác những con tôm hùm giống ở giai đoạn Puerulus, giai đoạn này tôm con thường yếu, kết hợp với phương thức bảo quản và vận chuyển không đúng cách thường làm tôm yếu và bị chết nhiều khi đưa vào ương nuôi. (2) Bẫy chà kết hợp với ánh sáng điện để thu hút, dẫn dụ tôm hùm được sử dụng chủ yếu ở vùng Ghềng Ráng và thành phố Qui Nhơn. Đây là phương pháp khai thác thụ động, có tính chọn lọc nếu sử dụng phù hợp. Con giống thường khai thác có kích thước lớn hơn (0,1– 3g) do đó có khả năng chống chịu tốt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường nên cho tỷ lệ sống trong ương nuôi. (3) Lặn bắt là hình thức khai thác chủ động, có tính chọn lọc, chủ yếu tập trung lùng sục ở các khu vực rạn ngầm, rạn san hô, cỏ biển…Đây là hình thức thủ công và rất ít người tham gia, và sản lượng khai thác thấp, nhưng kích cỡ tôm khai thác lớn, cho tỉ lệ sống cao nhất khi ương nuôi. Khai thác bằng hình thức lặn bắt và bằng cách đặt bẫy thường có kích cỡ lớn và hầu hết đã chuyển sang giai đoạn tôm con, có khuynh hướng sống định cư ở đáy tại những vừng rạn và được người khai thác thu vớt bằng cách lặn bắt hoặc sử dụng bẫy chà thì khả năng sây sát là rất ít, tôm thường có sức khỏe tốt. Ngược lại, tôm khai thác bằng lưới mành dễ bị tác động, sây sát mạnh do va chạm với lưới, đặc biệt tôm có thể ở giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus) và bắt đầu chuyển sang tôm con (tôm “trắng hồng”). Vì vậy, tôm thường có sức đề kháng kém, dễ bị tác động bởi sự thay đổi của yếu tố môi trường khi đem về thả nuôi nên tỉ lệ sống và khả năng chống chịu bệnh tật không cao. Kết quả khảo sát này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Võ Văn Nha (2007), Tôm hùm thu được ở các hình thức khai thác khác nhau thực sự có tác động rõ rệt đến sức khỏe của tôm nuôi từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ sống từ thấp đến cao 69.3 % (lưới), 76% (bẩy), 88% (Lặn) sau 60 ngày nuôi.
2. Hiện trạng ương nuôi tôm hùm giống Phát triển cùng với nghề khai thác là ương nuôi tôm hùm giống, tại Bình Định có 3 vùng chính ương nuôi nâng cấp tôm hùm giống tập trung tại Quy Nhơn (Nhơn Hải, Ghềnh Ráng, Nhơn Châu) với diện tích vùng nuôi là Nhơn Hải khoảng 20.000m2, Ghềnh Ráng khoảng 5.000m2, Nhơn Châu khoảng 1.000m2. Hàng năm ương nuôi từ 150 – 1.770 lồng và 300 hộ tham gia, sản lượng tăng hay giảm tùy thuộc vào sản lương tôm khai thác và giá tôm giống bán trên thị trường. Thường giá giao động từ 60.000 – 150.000 đ/con. Cá biệt năm 2008 -2009 giá có thời điểm chỉ con 25.000 đ/con tôm trắng (Puerulus, pre – juvenile), đây cũng là thời điểm mà người dân ương nuôi cao nhất 367.000 con (năm 2008), 450.000 con (năm 2009). Năm 2010, giá tôm giống cao (210.000 đ/con tôm trắng) người dân chỉ ương nuôi khoảng 100.000 con. Con giống được mua từ Bình Định tới Quảng Ngãi, những con giống có thời gian lưu giữ ngắn từ 1 – 2 giờ thì thả nuôi cho tỷ lệ sống cao. Tỷ lệ sống sau hai tháng nuôi là từ 70 – 95 %. Thức ăn chủ yếu là cua, ghẹ, hàu, phi, ruốc và cá cơm. Sau hai tháng nuôi tôm giống được bán cho những người nuôi tôm thịt ở Phú Yên, khánh Hòa. Ở Bình Định có hai hình thức ương nuôi tôm hùm giống ở 3 vùng nuôi khác nhau đó là ương nuôi lồng treo trên dây (Ghềnh Ráng), ương nuôi lồng treo trên bè (Nhơn Hải, Nhơn Châu). Trong hai hình thức nuôi trên thì hình thức ương nuôi treo trên dây là đạt và ít bị bệnh nhất. Năm 2006, khu vực Ghềnh ráng ương nuôi tôm bị bệnh chỉ 0,3% thấp hơn nhiều so với Nhơn Hải (18,3%). Từ đó đến nay, tôm hùm ương nuôi ở Khu vục Ghềnh Ráng tôm không bị bệnh. 3. Giải pháp kỹ thuật Trong các vùng nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương không thực hiện các hành vi gây tác hại đến nguồn lợi, môi trường sống của các loài thủy sản, đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản: - Khai thác, phá hủy san hô, bãi thực vật ngầm và các sinh cảnh tự nhiên khác; - Xả, thải, để rò rỉ các chất độc hại, ô nhiễm vượt quá giới hạn qui định; - Thả thủy sản bị nhiễm bệnh vào nơi nuôi trồng hoặc vào các vùng nước xung quanh khác; -Hạn chế phương thức khai thác bằng mành có kích thước mắc lưới nhỏ (0,5 mm), phải sử dụng kích thước mắc lưới lớn hơn để đảm bảo sức khỏe cho tôm hùm giống ương nuôi. -Lưu giữ: Khai thác bằng mành là tôm trắng được lưu giữ trong các thùng nhựa tròn, hoặc thùng xốp thể tích 10 – 40 lít, khoảng 150 – 300 con/thùng, có sục khí từ 5 – 48 giờ. Khai thác bằng chà bẫy: tôm bọ cạp nhỏ 0,3-1g cho vào giữ trong chai, lọ hoặc thùng đá 4 – 10 lít, thời gian giữ 3 – 5 giờ. Khai thác bằng lặn: tôm hùm giống trong các khe đá, rạn, kích thước từ 3 – 5g/con đựng trong các lọ 1 – 2 lít, không có sục khí, thời gian lưu giữ 2 – 3 giờ. -Kỹ thuật vận chuyển tôm giống: sử dụng phương pháp vận chuyển nước để vận chuyển tôm giống có kích thước từ Puerulus (tôm trắng) đến tôm Juveniles (tôm bò cạp). Trọng lượng tôm giai đoạn này khoảng 0,1 – 1g/con, đa số là ở 0,1 – 0,3g/con và rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường. +Vận chuyển từ vùng khai thác vào bờ: tôm được vận chuyển trong các chai lọ 1- 5 lít/lọ không có sục khí, canh nhựa 25x40 cm, thùng đựng đá 20x30 cm, thùng xốp 15x25x15 cm có sục khí nếu tôm nhiều, không có sục khí nếu tôm ít, thời gian lưu giữ và vận chuyển từ 3 – 48 g. Khi khai thác nhiều tôm được đưa vào bờ ngay, thời gian vận chuyển từ 3 – 6 giờ, nếu ít tôm thì thời gian lưu giữ và vận chuyển đến 24 giờ vì phải đủ số lượng mới đưa vào bờ. Phương tiện vận chuyển là thuyền hoặc thúng chai. Vào bờ tôm chuyển sang các thùng xốp đựng nước biển và một ít cát sạch. Kích thước thùng 30 x 50 x 25 cm. Mật độ 200 – 300 con/thùng, có sục khí và lưu giữ 30 phút đến 3 giờ. +Vận chuyển từ bờ đến địa điểm nuôi: tôm sau khi khai thác vào bờ bán cho chủ nậu hoặc chủ ương nuôi giống, sang vào thùng xốp 30x50x25 cm hoặc 45x60x35 cm. Dưới thùng có phủ một lớp cát dày 0,5 – 1 cm, có một ít rong hoặc lưới vụn, đổ nước biển sạch từ 5 – 7 cm, và sục khí trong suốt thời gian vận chuyển, phương tiện vận chuyển bằng ô tô, xe máy. Mật độ tôm cho mỗi thùng xốp từ 300 – 400 con/thùng nhỏ và 700 – 1000 con/ thùng lớn. Nếu vận chuyển tôm bán cho người nuôi ngoài tỉnh, bằng ô tô với thời gian 3 – 6 giờ, thì nhiệt độ nước duy trì 21 – 22 0C, giữ nhiệt độ nước bằng đá lạnh bỏ vào túi nylon cột kín. Nếu bán cho ương nuôi trong tỉnh, có thể vận chuyển tôm bằng xe máy, thời gian 1-3 giờ, không cần hạ nhiệt độ nước. Để hạn chế bệnh dịch xảy ra cần tuân thủ các bước trong quy trình kỹ thuật sau: (1) Chọn vùng nuôi thích hợp, có nước lưu thông. (2) Mật độ lồng ương nuôi không quá dày, khoảng cách 50 m/bè. (3) Chọn con giống khỏe mạnh, có thời gian lưu giữ và vận chuyển <2 giờ. (4) Thuần dưỡng con giống cho quen với môi trường 30 phút mới thả. (5) Cho tôm giống ăn bằng thức ăn cua, tôm, ghẹ còn tươi, sống có nguồn gốc ở những vùng không bị bệnh. (6) Dọn thức ăn thừa hàng ngày. (7) Thường xuyên lặn thăm tôm, kiểm tra môi trường nước, nếu nước nóng hoặc lạnh thì điều chỉnh độ sâu của lồng cho phù hợp, tránh làm tôm bị xốc. (8) Không được thải chất thải, thức ăn thừa, tôm bệnh ra vùng nuôi. (9) Thành lập tổ cồng động nuôi tôm để hỗ trợ lẫn nhau đặc biệt trao đổi kỹ thuật, thông tin thị trường. (10) Phối hợp với nhà kỹ thuật, nhà quản lý để cùng nhau giúp đỡ phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững./. |