|
Quyết định 661/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 29/7/1998 về mục tiêu nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 tr ha rừng. Năm 1999, tỉnh Bình Định triển khai thực hiện dự án 661 trên cơ sở chuyển tiếp từ chương trình 327 của Chính phủ, khi triển khai cũng như trong quá trình thực hiện dự án có những thuân lợi khó khăn như sau: Bước vào thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tỉnh Bình Định đã có những kinh nghiệm rút ra từ chương trình 327 thực hiện từ năm 1993-1998, về các mặt tổ chức chỉ đạo, xây dựng mô hình, khoa học kỹ thuật, xác lập tập đoàn cây trồng, cơ chế chính sách đầu tư. Do có được kinh nghiệm và thành quả của những năm trước, nên công tác chỉ đạo, điều hành Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã đi vào nề nếp và có hiệu quả; Các chủ trương chính sách lớn qua 12 năm thực hiện được phổ biến sâu rộng và nhân dân trong vùng dự án nhận thức đúng vai trò, chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của Dự án nên thực sự phấn khởi tham gia.
Tuy nhiên khi thực hiện dự án cũng còn có những khó khăn: Diện tích đất lâm nghiệp chưa sử dụng của tỉnh còn nhiều nhưng chủ yếu trên núi cao , vùng sâu, vùng xa, điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn thấp , không thuận lợi về giao thông, trong khi đó vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng còn hạn chế nên việc triển khai thực hiện trồng rừng gặp nhiều khó khăn; Đầu tư cho trồng rừng đòi hỏi vốn lớn, chu kỳ kinh doanh dài, rủi ro cao nhưng vốn vay cho trồng rừng sản xuất lãi suất không được ưu ái, suất đầu tư cho trồng và chăm sóc rừng phòng hộ thấp, các chính sách về khai thác, tỉa thưa chưa thật sự hấp dẫn để tạo động lực cho người dân tham gia. - Tổ chức triển khai thực hiện dự án: Trên cơ sở Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, Ngành Trung ương, tỉnh Bình Định đã tổ chức triển khai thực hiện chương trình khẩn trương ngay từ năm đầu, thành lập Ban Điều hành tỉnh, BQLDA trồng mới 5 triệu ha rừng từ tỉnh đến các BQLDA cơ sở. - Ban Quản lý dự án cấp tỉnh: Chi cục Lâm nghiệp là cơ quan thường trực của BQL Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tỉnh , Ban quản lý dự án tỉnh giúp Ban điều hành tỉnh xây dựng và tổng hợp kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm của dự án để trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định , giúp Ban điều hành cấp tỉnh chỉ đạo, kiểm tra, giám sát BQLDA cơ sở thực hiện nhiệm vụ được giao theo đúng quy hoạch, kế hoạch và các qui định của Dự án. - Các Ban Quản lý dự án cơ sở: BQL rừng phòng hộ các huyện, BQL rừng đặc dunhg An Toàn và Công ty Lâm nghiệp Qui nhơn kiêm nhiêm vụ Ban Quản lý dự án 661 cơ sở , là những đơn vị trực tiếp thực hiện dự án tại cơ sở có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm của Dự án gửi Ban Quản lý dự án tỉnh để tổng hợp .Tổ chức triển khai các hạng mục công trình của dự án theo kế hoạch hàng năm tỉnh giao. Tổ chức bộ máy BQL các cấp gọn nhẹ, được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ nên hoạt động nề nếp,hàng tháng BQLDA tỉnh tổ chức họp trực báo định kỳ với các BQLDA cơ sở, và các đơn vị có liên quan để nắm bắt kết quả đã làm, giải quyết những khó khăn, vướn mắc, đồng thời triển khai những nội dung cần quan tâm giải quyết trong thời gian tới; Chính quyền sở tại từ huyện đến xã, thôn đã phối hợp chặt chẽ với các BQLDA tạo mọi điều kiện thuận lợi để dự án triển khai đạt kết quả, đặc biệt vai trò của xã, thôn và các già làng, trưởng bản vô cùng quan trọng đã giải quyết nhiều vướng mắc, giải thích chính sách và động viên các hộ tham gia, đồng thời là lực lượng giám sát việc thực hiện dự án tại cơ sở. -Kết quả thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu của dự án: Ngoài dự án trồng mới 5tr ha rừng trên địa bàn Tỉnh Bình Định từ năm 1995 còn thực hiện 1 dự án FDI vốn 100% của Nhật thuê gần 10.000 ha đất để trồng rừng nguyên liệu giấy, và đến năm 2006 triển khai 2 dự án ODA : Dự án phát triển ngành lâm nghiệp do ngân hàng thế giới cho vay ưu đãi để các hộ dân trồng rừng sản xuất với diện tích 24.400 ha , Dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững do Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ không hoàn lại hỗ trợ cho các hộ gia đình thiết lập 8.000ha rừng và giao rừng cho cộng đồng hơn 2.000 ha rừng. Ngoài ra các doanh nghiệp các hộ gia đình cá nhân còn đầu tư tròng rừng sản xuất bằng nguồn vốn vay và vốn tự có. - Kết quả trồng mới rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất: Từ 1999 đến 2010 Bình Định đã trồng mới được 40.290 ha rừng, tỉ lệ cây sống đạt 85% trở lên, tỉ lệ thành rừng khá cao; trong đó: -Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 12.774 ha/12.263 ha đạt 104 % kế hoạch, loài cây trồng chủ yếu như: Keo lai, Keo lá tràm, Phi lao, Thông nhựa, Thông caribe, Sao đen, Dầu rái, Lim xanh ... Các ban quản lý Dự án cơ sở các huyện trồng rừng phòng hộ đạt và vượt kế hoạch như: Phù Mỹ, Quy Nhơn, Hoài Nhơn, Vĩnh Thạnh ... -Trồng rừng sản xuất: 27.516 ha/24.692 ha đạt 111 % kế hoạch . Chủ yếu trồng các loài cây như: Keo lai các dòng , keo lá tràm, bạch đàn (E. urophylla ), Xoan Ta , Bời lời đỏ ... Từ năm 2002 các công ty Lâm nghiệp đã tích cực trồng rừng sản xuất, chuyển dần từ kinh doanh từ khai thác rừng tự nhiên là chính sang kinh doanh rừng trồng . - Kết quả khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ, rừng đặc dụng: Từ năm 1999 đến năm 2010 số diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng được giao khoán khoanh nuôi tái sinh là: 353.916,7 lượt ha; Đến năm 2009 toàn tỉnh đã tiến hành thực hiện công tác khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 48.211,2ha cho trên 2.500 hộ và nhóm hộ tham gia, kế hoạch TW giao là 40.176 ha vượt 8.035 ha. Đây là chủ trương đúng đắn vừa đỡ tốn kém nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao; kết quả diễn thế rừng theo xu hướng cải tạo tổ thành loài tốt, rừng phục hồi rất nhanh chóng, - Kết quả khoán bảo vệ rừng: Từ năm 1999 đến 2010 tỉnh Bình Định đã giao khoán bảo vệ 426.170,19 lượt ha cho gần 2.650 hộ và các tổ chức trong vùng dự án, đến năm 2009 diện tích giao khoán bảo vệ là 34.459,88 ha/kế hoạch giao của TW là 15.000ha vượt 19.459,88 ha. Các Ban quản lý dự án 661 cơ sở đã tiến hành thiết kế và ký hợp đồng giao khoán đến hộ gia đình, cộng đồng thôn bản, các tổ chức và cấp tiền trực tiếp đến các đối tưọng nhận khoán để bảo vệ rừng, mức giao khoán tăng từ 50.000 đồng/ha/năm lên 100 ngàn đồng/ha/năm người nhận khoán có thêm thu nhập nên công tác bảo vệ rừng có hiệu quả hơn. Các BQL còn triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác bảo vệ rừng phòng chống cháy rừng như: Trạm quản lý bảo vệ rừng, đường ranh cản lửa, chòi canh lửa, các bản pano cấm lửa đồng thời bố trí cán bộ bảo vệ rừng chuyên trách làm nòng cốt hỗ trợ cho các hộ, tổ chức nhận khoán bảo vệ rừng thường xuyên tuần tra phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ vi phạm , do vậy rừng được bảo vệ khá tốt . - Chất lượng rừng: Diện tích rừng đến năm 2009 tăng thêm 69.429,8 ha so với năm 1999 (năm 1999 diện tích có rừng tại Bình Định là 196.067 ha, đến năm 2009 là 265.496,8 ha). Trong đó: diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất tăng 69.429,8 ha. Hầu hết trên các lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển từ Qui Nhơn đến Hoài nhơn đai rừng Phi lao chắn gió chắn cát rừng được bảo vệ và phục hồi tốt nên đã phát huy được chức năng phòng hộ .Độ che phủ tăng lên 43,6% đã góp phần chống xói mòn, rửa trôi đất, hạn chế lũ lụt, cải thiện môi trường sinh thái . - Tạo vùng nguyên liệu, phát triển công nghiệp chế biến lâm sản: Diện tích vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh : Đến năm 2009 diện tích rừng tự nhiên có trữ lượng giàu và trung bình giao cho 2 công ty lâm nghiệp quản lý kinh doanh là 2.562 ha với trữ lượng 1.599.300m3, mỗi năm chỉ tiêu khai thác b/q 5.000 m3 gỗ tròn và khai thác tận thu tận dụng khoản 3.000 m3 . Số gỗ này một phần cung cấp cho nhu cầu gia dụng của địa phương và cung ứng cho các nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu. Năm 2009 diện tích rừng trồng: 77.186,60 ha (trong đó: rừng trồng phòng hộ, đặc dụng: 23.318,1 ha - diện tích rừng trồng sản xuất: 53.868,50 ha), diện tích rừng trồng có trữ lượng 58.536 ha với trữ lượng 7.024.320 m3. Năm 2009 toàn tỉnh đã khai thác gỗ rừng trồng được 167.300 m3 gỗ, số gỗ này chỉ khoảng 5% đủ tiêu chuẩn làm gỗ nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy sản xuát gỗ xuất khẩu còn lại làm nguyên liệu cho các nhà máy băm dăm xuất khẩu . - Năng lực chế biến lâm sản: Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản từng bước phát triển thành một mạng lưới toàn tỉnh với nhiều thành phần kinh tế tham gia, bao gồm 127 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng công suất chế biến hiện nay khoảng 342.000m3/năm .Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 05 nhà máy băm dăm gỗ xuất khẩu cho nguyên liệu giấy . Giá trị sản xuất công nghiệp sản phẩm gỗ và lâm sản năm 2009 đạt giá trị 2.017,3 tỷ đồng, chiếm 34,1% so giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh . Mặt dù Bình Định có diện tích rừng trồng khá lớn nhưng vì thiếu vốn nên các chủ rừng chỉ trồng rừng chu kỳ ngắn 6 năm thậm chí có nhiều diện tích rừng trồng sản xuất chỉ đén 4 năm đã khai thác chủ yếu bán cho các nhà máy dăm . Nếu đủ vốn rừng trồng keo lai , Bạch đàn Uro được đầu tư chăm sóc, bảo vệ chu kỳ trên 10 năm sẽ tăng tỉ lệ gỗ cung cấp cho chế biến hàng xuất khẩu lên trên 50% và như vậy mỗi năm trên địa bàn tỉnh sẽ cung cấp trên 1 trăm nghìn m3 nguyên liệu gỗ từ rừng trồng . - Tạo việc làm xóa đói giảm nghèo: Thực hiện dự án trồng mới 5tr ha rừng hàng ngàn hộ nông dân trong vùng dự án đã dược giao khoán bảo vệ rừng, giao khoán khoanh nuôi tái sinh, giao khoán trồng rừng phòng hộ, đăc dụng, giao đất để trồng rừng sản xuất. Mỗi hộ được giao khoán bảo vệ hoặc khoanh nuôi bình quân 20ha rừng mỗi năm thu nhập khoảng 2triệu đồng, mỗi tháng giải quyết được khoảng 25 kg gạo , b/q mỗi hộ nhận khoán trồng rừng phòng hộ 3ha từ tiền công trồng rừng chăm sóc rừng giải quyết được cuộc sống trước mắt , đến chu kỳ khai thác được hưởng lợi từ sản phẩm gỗ nên có tích lũy đầu tư vào sản xuất góp phần xói đói giảm nghèo . Nhiều hộ được giao đất và được hỗ trợ vốn để trồng rừng sản xuất đến chu kỳ khai thác thu hàng chục triệu đồng có nhiều hộ thu hàng trăm triệu đồng . - Việc lồng ghép cơ chế, chính sách của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với các chương trình xóa đói giảm nghèo: Trên địa bàn các huyện miền núi các chương trình 134, 135 đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông đến trung tâm các xã miền núi, đến các thôn bản tạo thuận lợi cho việc triển khai dự án. Các chương trình này còn đầu tư cấp cây giống Lâm nghiệp cho bà con nông dân trong vùng dự án trồng rừng. Từ năm 2009 các huyện trong diện được hưởng chính sách của nghị quyết 30a được lồng ghép với chương trình 661 khoán bảo vệ rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất là rừng giàu và rừng trung bình (đã đóng cửa rừng), được hỗ trợ vốn để trồng rừng sản xuất. - Nghiên cứu, sản xuất giống cây lâm nghiệp: Trên địa bàn tỉnh Bình Định có 36 đơn vị đủ điều kiện sản xuất kinh doanh giống lâm nghiệp , trong đó có 3 cơ sở sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào với 41 vườn ươm diện tích 34,5 ha. Năng lực sản xuất mỗi năm trên 40 triệu cây giống các loại, chủ yếu bằng phương pháp giâm hom, nuôi cấy mô, phương pháp gieo ươm bằng hạt chỉ thực hiện đối với 1 số loài cây bản địa như Sao đen , Dầu , Lim xanh ...Các dòng keo lai, keo lá tràm , Bạch đàn lai được Bộ NN công nhận Bình Định đều đã đưa về để sản xuất cung cấp cho trong và ngoài tỉnh trồng rừng . Trên địa bàn tỉnh còn xây dựng nhiều nguồn giống để cung cấp cho các cơ sở sản xuất: Vườn giống: xoan ta 3 ha. Rừng giống chuyển hóa: 5 ha rừng giống chò chỉ chuyển hóa từ rừng tự nhiên vào năm 2006 khả năng cung cấp giống 6.700 kg/năm; 5ha rừng thông nhựa mỗi năm cung cấp 1.200 kg hạt giống . Lâm phần tuyển chọn: 3,3 ha keo tai tượng , khả năng cung cấp giống 500 kg/năm; 35,1 ha cây Keo lá tràm, khả năng cung cấp 2.000k g/năm. Vườn cung cấp hom : 43 vườn , diện tích 12,5ha, năng lực cung cấp 50 triệu hom mỗi năm. Tổng vốn đầu tư thực hiện dự án: 431.981,00 triệu đồng. Tổng vốn đầu tư từ ngân sách (ước cả 2010): 189.567,00 triệu đồng. - Ngân sách TW: 144.585,00 triệu đồng; Ngân sách địa phương: 29.556,00 triệu đồng; Vốn đối ứng cho các dự án ODA: 15.426,00 triệu đồng; Tổng vốn huy động vốn ngoài ngân sách: 242.414,00 triệu đồng; Vốn vay nước ngoài: 58.282,00 triệu đồng; Vốn viện trợ không hoàn lại: 38.278,00 triệu đồng; Vốn FDI: 74.000,00 triệu đồng; Vốn tự có của các doanh nghiệp: 71.854,00 triệu đồng - Đánh giá việc chỉ đạo điều hành, tổ chức, quản lý dự án: Dự án trồng mới 5tr ha rừng được sự chỉ đạo điều hành thống nhất và xuyên suốt từ chính phủ đến các bộ ngành có liên quan ở trung ương đến các cấp chính quyền địa phương . Hệ thống tổ chức các cấp điều hành và quản lý dự án chủ yếu từ các cơ quan quản lý có liên quan kiêm nhiệm do đó công việc chỉ đạo điều hành cũng như quản lý dự án thực hiện hết sức thuận lợi , khi có vấn đề gì phát sinh , cần bổ sung sửa đổi được đề xuất và giải quyết kịp thời . Cũng do bộ máy kiêm nhiệm nên đã tiết kiêm được một khoản kinh phí khá lớn để chi trả lương cho cán bộ của ban điều hành cũng như BQL dự án các cấp , tiết kiệm kinh phí mua sắm trang thiết bị , cơ sở làm việc phục vụ cho dự án . - Đánh giá việc đạt các mục tiêu tổng quát của dự án: + Năm 1998 bắt đầu triển khai thực hiện dự án 661 diện tích có rừng của Bình Định là 196.067 ha độ che phủ 32,5%, đến năm 2009 qua 11 năm thực hiện dự án diện tích có rừng là 265.496,8 ha độ che phủ đạt 43,6 % , diện tích rừng tăng thêm là 69.429,8 ha và độ che phủ tăng 11,1 %, như vậy mỗi năm diện tích rừng của Bình Định tăng thêm 6.311 ha và độ che phủ tăng thêm 1% . Qua đó cho thấy mục tiêu đề ra là giữ cho được diện tích rừng hiện có và phát triển rừng đến năm 2010 đạt độ che phủ bình quân 43% thì Bình Định đã đạt được khá tốt. + Qua 11 năm thực hiện dự án đã đưa vào sử dụng gần 70.000ha đất trống đồi núi trọc để trồng rừng, giao khoán hàng trăm nghìn lượt bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho hàng ngàn hộ trong vùng dự án, hình thành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng và dần dần xóa bỏ tập quán du canh du cư phát rừng làm nương rẫy. + Bình Định là trung tâm của khu vực về chế biến gỗ, với diện tích rừng không ngừng tăng lên đã cung ứng một phần nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ và dăm giấy, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh. -Đánh giá thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể: + Về công tác phát triển rừng: Các chỉ tiêu về trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh hàng năm tỉnh thực hiện đều đạt và vượt kế hoạch, đặc biệt việc trồng rừng phòng hộ suất đầu tư thấp những năm đầu chỉ hỗ trợ 2,5 triệu đồng/ha, sau đó tăng lên 5 triệu /ha , 6triệu/ha rồi 10 triệu/ha, nhưng suất đầu tư cũng chỉ mang tính hỗ trợ không đủ để trồng theo định mức của Bộ NN và PTNT. Người nhận khoán phải đầu tư thêm công lao động cho các khâu trồng , chăm sóc , bảo vệ rừng, nhờ có sự vận động, tuyên truyền tốt nên đã thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu TW giao. Trong công tác trồng rừng phòng hộ còn có mặt hạn chế là diện tích trồng các loài cây bản địa có khả năng phòng hộ bền vững như Sao đen , Dầu rái , Lim xanh , Chò chỉ ...còn khiêm tốn , phần lớn diện tích trồng các loài cây mọc nhanh như keo lá tràm , Keo lai . Thời gian đến cần phải trồng các loài cây bản điạ thay thế dần diện tích nầy bằng phương thức làm giàu rừng hoặc tỉa thưa trồng bổ sung. + Về công tác bảo vệ rừng: Diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng được giao cho các BQL, rừng sản xuất là rừng tự nhiên được giao cho các công ty Lâm nghiệp tổ chức quản lý , bảo vệ và phát triển rừng theo chức năng. Thực hiện dự án 661 diện tích rừng đặc dụng phòng hộ đã được giao khoán bảo vệ trên 83.000ha (cộng cả diện tích KNTS), diện tích rừng sản xuất giao khoán gần 6.000ha, diện tích rừng này đã có chủ, các chủ rừng phối hợp với các hộ nhận khoán tổ chức kiểm tra phát hiện ngăn chặn nên không còn xảy ra tình trạng phát rừng làm nương rẫy, hạn chế việc khai thác rừng trái phép. + Tác động về kinh tế xã hội: Dự án trồng mới 5tr ha rừng ảnh hưởng rất sâu rộng đến đời sống của các hộ dân ở các địa phương trung du và miền núi trong vùng dự án. Dự án đem lại việc làm thường xuyên ổn định cho các hộ thông qua công tác giao khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng .Các hộ đồng bào dân tộc nhận khoán rừng hàng năm đã có tiền mua lương thực ổn định cuộc sống do đó không phải phát rừng làm nương rẫy để trỉa lúa ngô , hình thành tập quán định canh định cư. Chính phủ cho thực hiện nghị quyết 30a giảm nghèo nhanh và bền vững có nội dung giao khoán bảo vệ rừng và được lồng ghép với dự án 661 càng có tác động tốt vừa giữ được rừng vừa giúp cho các hộ nghèo có cơ hội thoát nghèo. Từ cuộc sống cảc bà con nhân dân ổn định nên tình hình an toàn trật tự xã hội cũng được giữ vững. + Qua hơn 11 năm thực hiện dự án đã tạo một vùng nguyên liệu gỗ cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân và cho các cơ sở chế biến. Thông qua công tác khai thác, chế biến gỗ từ nguồn nguyên liệu này hàng năm cũng giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động . Xuất khẩu gỗ dăm làm nguyên liệu giấy và các sản phẩm gia dụng từ gỗ hàng năm cũng đem về cho tỉnh một nguồn nghoại tệ đáng kể. Kiến nghị: -Theo nghị quyết của quốc hội 2010 dự án trồng mới 5tr ha rừng sẽ kết thúc , như vậy diện tích rừng đặc dụng , rừng phòng hộ không còn được đầu tư bảo vệ và phát triển sẽ có nguy cơ bị xâm hại do đó dự án cần tiếp tục thực hiện hoặc chuyển sang đầu tư theo chương trình mục tiêu quốc gia. - Để nắm diện tích rừng và đất lâm nghiệp tương đối chính xác phục vụ cho việc quản lý và đầu tư phát triển đề nghị năm 2010 chính phủ cho tổng kiểm kê diện tích , trữ lượng từng loại rừng rừng và đất lâm nghiệp toàn quốc vì đến nay đã quá thời gian kiểm kê theo luật bảo vệ và phát triển rừng qui định./. |