|
Theo thống kê của Chi cục khai thác BVNL Thủy sản Bình Định, tính đến ngày 15.08.2010 toàn tỉnh Bình Định có 8098 tàu cá, khối tàu thường xuyên khai thác hải sản tại vùng khơi và vùng biển cả có công suất từ 90 CV là 1692 chiếc, tỷ lệ 20,89%; khối tàu khai thác hải sản tại vùng khơi và vùng lộng có công suất từ 20CV đến dưới 90CV là 3711 chiếc chiếm tỷ lệ 45,82%. So với mặt bằng chung của cả nước tỉnh Bình Định có số lượng tàu cá khai thác hải sản xa bờ khá cao, sau tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang. Đây là một trong những lợi thế về phương tiện và lực lượng khai thác đóng góp vào sự tăng trưởng sản lượng khai thác hàng năm và gắn liền với sự hiện diện của ngư dân trên vùng biển xa bờ của Việt Nam  Normal 0 false false false /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} Tàu cá đánh bắt xa bờ ở Hoài Nhơn (Ảnh: BBT) 1.Nghề cá xa bờ tại Bình Định Nghề cá xa bờ của tỉnh Bình Định có thể hiểu gồm hai bộ phận hợp thành là nghề cá xa bờ ở vùng khơi của tỉnh Bình Định và nghề cá của tỉnh Bình Định di chuyển đến hoạt động ở ngư trường của các tỉnh khác. Vùng khơi của miền Trung bao gồm cả khu vực Trường Sa, Hòang Sa là nơi tập trung các lòai cá nổi và di cư với số lượng lớn. Trong nhiều năm qua, sản lượng khai thác các lòai cá đại dương: cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá thu, cá ngừ chù.... với các lọai nghề vây, câu tại Bình Định đã đóng góp lớn vào sản lượng khai thác chung của tòan tỉnh. Đây là ngư trường có tiềm năng và triển vọng cho việc tính tóan cho sự phát triển nghề cá xa bờ, hạn chế áp lực khai thác ở tuyến ven bờ. Vùng khai thác hải sản có số lượng tàu thuyền Bình Định di chuyển đến là vùng biển vùng biển Vịnh Bắc bộ và Đông, Tây Nam bộ. Đây là những ngư trường đang còn khả năng khai thác nhất là các vùng ở tuyến lộng và tuyến khơi: + Ở Vịnh Bắc bộ ngư dân bản địa chưa đủ sức và năng lực khai thác hết nguồn lợi cá nổi xa bờ vùng có độ sâu lớn hơn 30 mét nước ở các ngư trường Tây Nam Bạch Long Vĩ, vùng giữa Vịnh và Cửa Vịnh và nhất là các vùng đánh cá chung theo Hiệp định Hợp tác nghề cá Việt Nam-Trung Quốc. + Ở khu vực Ninh Thuận-Bình Thuận và vùng Đông, Tây Nam bộ ngư trường còn tương đối dồi dào và vùng biển xa bờ còn có khả năng thu hút được thêm nhiều tàu thuyền khai thác nhất là các tàu câu mực, vây ánh sáng, vây ngày mà ngư dân Bình Định có sở trường khai thác. 2.Thuận lợi và khó khăn 2.1. Thuận lợi - Lao động đánh cá so với ngư dân trong cả nước, ngư dân Bình Định có kinh nghiệm trong khai thác và sử dụng các trang thiết bị hàng hải thành thạo. Trình độ công nghệ, năng suất khai thác, khả năng đi biển, lao động trên biển luôn đạt hiệu quả và chất lượng khai thác cao so với mặt bằng ngư dân của các tỉnh khác. - Do tiếp cận trực tiếp với hai ngư trường cá nổi (Trường Sa và Hòang Sa) của biển Đông, nên việc phát triển và mở rộng ngư trường khơi xa phục vụ cho việc khai thác xa bờ rất thuận lợi và tiềm năng lớn. Đặc biệt là việc phát triển nghề câu cá ngừ đại dương. - Cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá : các cơ sở đóng tàu, sửa chữa và hậu cần nghề cá đảm bảo cho việc đánh bắt khai thác hải sản xa bờ được phân bố đều tại các huyện, thành phố trong tỉnh; các cảng cá, chợ cá được tập trung xây dựng, nạo vét phục vụ đầy đủ cho số lượng tàu thuyền neo đậu; vệ sinh an tòan thực phẩm thủy sản cho các tàu khai thác cũng đang dần được hòan thiện và đảm bảo các yêu cầu cho việc xuất khẩu thủy sản. - Lực lượng khai thác hải sản xa bờ bao gồm phương tiện, ngư lưới cụ, trang thiết bị khai thác đã có bước phát triển trong thời gian qua, thông qua các chương trình đánh bắt xa bờ năm 1998 và chương trình hỗ trợ dầu cho ngư dân theo quyết định 289, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã kịp thời triển khai có hiệu quả đến từng địa phương, đảm bảo các yêu cầu phục vụ cho ngư dân bám biển và yên tâm sản xuất trong thời điểm giá xăng dầu cao trong năm 2008. - Quá trình hội nhập quốc tế cũng là nguyên nhân khách quan buộc nghề cá Bình Định nói riêng, nghề cá cả nước nói chung phải phát triển theo hướng công nghiệp với những đội tàu lớn khai thác xa bờ. 2.2. Khó khăn: -Tàu thuyền khai thác xa bờ tuy có bước phát triển nhưng tỷ lệ tàu cá có kích thước và công suất lớn đảm bảo khai thác xa bờ vẫn chiếm tỷ lệ thấp 20,98 % trong tổng số tàu cá toàn tỉnh. - Trình độ công nghệ khai thác, bảo quản sản phẩm sau khai thác trên các tàu cá xa bờ vẫn ở mức độ thấp, sản xuất chưa ổn định, năng suất và hiệu quả đạt được còn hạn chế. -Cơ sở hạ tầng nghề cá như cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão…mặc dù đang được đầu tư nhưng vẫn còn hạn chế, chưa theo kịp với yêu cầu phục vụ sản xuất -Tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá và tiêu thụ sản phẩm cho ngư dân vẫn còn hạn chế, đặc biệt là việc tổ chức dịch vụ và hậu cần nghề cá trên biển (chi phí khai thác lớn…). -Công tác dự báo ngư trường còn hạn chế và việc theo dõi, quản lý, giám sát hoạt động nghề cá, phòng chống lụt bão trên biển vẫn còn khó khăn , đặc biệt là đối với nhóm tàu khai thác xa bờ. -Giá cả nhiên liệu có tăng trong những tháng gần đây, trong khi giá cả thủy sản tăng ít, thậm chí có lúc, có sản phẩm còn hạ thấp. - Thông tin thương mại và tiếp thị sản phẩm khai thác thủy sản tại Bình Định chưa được phổ biến rộng rãi, nhiều thương hiệu : cá ngừ đại dương, cá cờ kiếm vẫn chưa được quảng bá và nâng cao sức cạnh tranh giá trị của sản phẩm. -Các rào cản thương mại trong quá trình hội nhập (việc gia nhập các tổ chức nghề cá như Ủy ban Nghề cá Trung Tây Thái Bình Dương, việc thực hiện Quy chế IUU chỉ mới được bắt đầu …) dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu thủy sản khai thác của cả nước, trong đó có Bình Định. 3.Đề xuất giải pháp đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ Phát huy lợi thế và tiềm năng của nghề cá xa bờ tại Bình Định, góp phần tăng sản lượng đánh bắt hải sản xa bờ, giảm áp lực khai thác ven bờ, tăng thu nhập cho cộng đồng ngư dân ven biển và an ninh chủ quyền trên vùng biển, Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định đề xuất các giải pháp thực hiện và các chương trình, dự án từ (2011 – 2016) như sau: 3.1. Giải pháp thực hiện - Đánh giá và thống kê chính xác các lọai nghề khai thác xa bờ và khai thác ở các ngư trường ngòai tỉnh. - Tổ chức thành lập và triển khai các mô hình tổ, nhóm tàu họat động trên vùng biển xa bờ cho các lọai nghề : câu cá ngừ đại dương, vây rút chì, câu mực, mỗi nhóm tổ từ (3 ÷ 7) tàu, tiến đến thành lập các tập đòan câu cá ngừ đại dương và tập đòan vây rút chì đánh bắt ở vùng biển xa bờ. - Duy trì và tổ chức tốt các tàu đánh bắt ở các ngư trường ngoài tỉnh. - Cải hoán đội tàu hoặc đóng mới thay thế cho các tàu cần đào thải bằng các loại tàu khác có kích cỡ lớn, từ 90CV trở lên để có thể trang bị thiết bị bảo quản làm lạnh nhanh bằng hệ thống làm lạnh nước biển hoặc làm đông nhanh và có thể câu cá ở những độ sâu lớn hơn (từ 100 - 300 m) và di chuyển ngư trường, khai thác xa bờ dài ngày ở phía Nam biển Đông, vịnh Bắc bộ. 3.2. Các chương trình và dự án cần tiến hành - Xây dựng chương trình điều tra sản lượng trong khai thác thủy sản ở vùng biển xa bờ. - Xây dựng các chính sách khuyến khích đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ và di chuyên ngư trường, phát triển lọai tàu có công suất lớn từ 90 CV trở lên, trang bị đồng bộ và hiện đại hóa để nâng cao hiệu quả đánh bắt và đảm bảo an tòan trên biển. Tăng cường quản lý và phát triển khai thác hải sản xa bờ, trọng tâm là các nghề câu mực, vây rút chì đối với lực lượng di chuyền ngư trường và nghề câu cá ngừ đại dương, vây rút chì ngày, lưới cản nilon, lưới chuồn đối với lực lượng khai thác trong tỉnh. - Phổ biến và nhân rộng kết quả nghiên cứu cải tiến lưới vây và nghề câu cá ngừ đại dương cho ngư dân để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả đánh bắt. - Hỗ trợ cung cấp thông tin về ngư trường xa bờ, đặc biệt chú trọng các thông tin về nguồn lợi ở vùng khơi miền Trung và ngư trường Trường Sa, Hòang Sa. - Xây dựng các giải pháp nhằm hỗ trợ ngư dân trong việc bảo quản sản phẩm, tiết kiệm chi phí nhiên liệu trong khai thác hải sản tại vùng biển xa bờ. - Đánh giá hiệu quả và đề xuất các lọai nghề khai thác của các tàu cá xa bờ tại Bình Định. - Cải tiến nâng cao hiệu quả ngư cụ khai thác xa bờ tại Bình Định. - Điều tra sản lượng cá ngừ giống khai thác bằng nghề vây và đề xuất các giải pháp nuôi giữ. - Tổ chức sản xuất khai thác hải sản theo hướng hợp tác, phối hợp nhau để nâng cao hiệu quả đánh bắt và hỗ trợ nhau phòng chống rủi ro, tai nạn, đảm bảo an tòan cho họat động nghề cá trên biển. Nhân rộng mô hình Tổ đòan kết sản xuất cho các nghề khai thác xa bờ. - Tăng cường quản lý, ngăn chặn tình trạng tàu cá và ngư dân bị nước ngòai bắt giữ. - Xây dựng các chương trình và tham gia vào Hiệp hội cá ngừ Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngư dân và nâng cao hiệu quả đánh bắt nghề câu cá ngừ đại dương. - Xây dựng các chương trình đào tạo và nâng cao trình độ thuyền viên trên các tàu đánh cá xa bờ. Hy vọng rằng trong thời gian đến, các chủ trương chính sách của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng với sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc triển khai các chính sách phát triển, khuyến khích khai thác hải sản xa bờ sẽ góp phần thúc đẩy nhanh và triển khai có hiệu quả các giải pháp đề xuất nhằm triển khai có hiệu quả chương trình khai thác hải sản xa bờ tại tỉnh Bình Định./. |