|
PHẦN I. Nguyên nhân phát sinh:
Nguyên nhân dẫn đến bùng phát của rầy nâu đến nay đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu và đề xuất nhiều giả thiết . Sơ đồ “các nhân tố dẫn đến bùng phát rầy nâu” cho thấy rằng sự tăng cao đột ngột của rầy nâu gắn liền với sự tương hỗ giữa rầy nâu, cây lúa và tổ hợp các yếu tố ngoại cảnh. Sự bùng phát của rầy nâu là sự tăng cao đột ngột về số lượng cá thể rầy, diễn biến từ lứa này đến lứa khác trong một vụ lúa Theo Chi cục BVTV, sự bùng phát rầy nâu vụ Đông xuân 2009-2010 có liên quan đến các nhân tố sau: 1. Tập quán canh tác của nông dân: - Mùa vụ: Ở nhiều địa phương sự chuyển đổi mùa vụ khơng đồng loạt và gieo sạ không tập trung, trên đồng ruộng luôn luôn có nhiều giai đoạn sinh trưởng của lúa, là cầu nối nguồn thức ăn cho rầy sinh trưởng và phát triển, thuận lợi để rầy nâu tích luỹ mật số và bùng phát gây hại mạnh trong vụ Đông Xuân. - Sử dụng các giống lúa nhiễm nặng rầy nu. Mặc dù tỉnh đã cấm sản xuất, kinh doanh, sử dụng các giống lúa Ai 32, IR 13-2, KD18 trên địa bàn Bình Định. Nhưng ở nhiều địa phương trong tỉnh nhiều nông dân vẫn gieo sạ các giống lúa này. - Bón thừa phân đạm: Thực tế sản xuất, hơn 50% nông dân thường bón đạm theo kinh nghiệm mà không theo sự hướng dẫn. Quy luật tất yếu của rầy nu là khi phải lựa chọn nơi di trú thì rầy nâu trưởng thành thường chọn ruộng lúa bón nhiều đạm để đẻ trứng chứ không chọn ruộng lúa nghèo đạm. - Lạm dụng thuốc BVTV hoá học: Việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học phổ rộng phun 3-4 lần/vụ đã gây phá vỡ mối quan hệ sinh thái trong sinh quần ruộng lúa, phá hủy quần thể sinh vật bắt mồi, đặt biệt là thiên địch của rầy nâu là bọ xít mù xanh, các loài nhện… là nguyên nhân dẫn đến bùng phát rầy nâu. - Mật độ gieo sạ quá dày: Lượng giống gieo 140-180 kg/ha, có nơi cao hơn là điều kiện thuận lợi để rầy nâu phát sinh gây hại. Tất cả những tập quán trên tạo điều kiện cho rầy nâu phát sinh phát triển thuận lợi, tích lũy số lượng cá thể dẫn đến bùng phát thành dịch. Tuy nhiên các tập quán canh tác trên những năm qua hầu như không thay đổi nhiều.
2. Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đền sự phát sinh, phát triển của rầy nâu: Biến động thời tiết vụ Đông xuân với mức độ gây hại của rầy nâu: - Về ẩm độ không khí: Ẩm độ không khí vụ đông xuân luôn từ 80-90% la điều kiện tối thích cho sinh trưởng, phát dục của rầy nâu trên đồng ruộng. - Về nhiệt độ không khí: Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm luôn có 1-2 đợt nhiệt độ tối thấp ban đêm xuống dưới 170C kèm theo sương đêm. Tuy nhiên những đợt lạnh này xảy ra sớm hay muộn, dài hay ngắn ở các năm lại không giống nhau. Sự khác nhau này cụ thể là yếu tố trực tiếp chi phối sự tăng trưởng của quần thể rầy nâu ở các năm. Khi điều kiện khí hậu thời tiết có ẩm độ không khí thích hợp, nhiệt độ không khí hạ thấp, trên giống lúa nhiễm rầy, cây lúa ở giai đoạn đẻ nhánh đến ngậm sữa là lúc dảnh lúa mềm, hàm lượng các chất dinh dưỡng cho rầy nâu phong phú thì trứng và rầy non phát dục hóa trưởng thành có tỷ lệ rầy cái tối đa(chiếm 70-80%), số lượng trứng đẻ của 1 rầy cái tăng cao(tối đa là:1.474 trứng). Như vậy khi gặp điều kiện trên rầy nâu sẽ có chỉ số sinh sản thực tế tiến gần đến chỉ số sinh sản tối đa. Sự tăng cao mật số diễn ra sau 3 lứa liên tiếp trong một vụ thì mật số quần thể rầy nâu có thể tăng cao nhanh chóng đến 500 lần. Từ đó có thể giải thích sự biến đổi nhiệt độ tối thấp có liên quan chặt chẽ đến mức độ gây hại của rầy nâu.
PHẦN II: Quy trình kỹ thuật tổng hợp phòng trừ rầy nâu hại lúa ở Bình Định:
I. Biện pháp phòng: - Làm đất kỹ và vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo sạ: + Cày ải lật gốc rạ, diệt lúa chét để hạn chế rầy nâu và nguồn bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. + Thu dọn tàn dư cây trồng, cỏ dại, để làm mất nơi cư trú và nguồn thức ăn của rầy nâu. - Luân canh cây trồng: Những chân ruộng cao có thể luân canh với cây trồng khác, nhằm hạn chế sâu bệnh và cỏ dại, vì phần lớn các loài sâu bệnh trên lúa ít gây hại trên cây trồng khác. Nguyên lý của biện pháp này là cắt đứt mối quan hệ chuyên tính giữa các sinh vật gây hại và cây ký chủ của chúng, hạn chế sự phát triển của rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. - Bố trí thời vụ gieo sạ thích hợp: + Chuyển diện tích từ 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu, thời gian giữa 2 vụ lúa ít nhất là 3 tuần để cắt đứt nguồn thức ăn của rầy nâu trên đồng ruộng. + Gieo sạ đồng loạt theo từng khu vực để phân tán mật độ rầy nâu trên đồng ruộng, hạn chế được rầy phát sinh và tích lũy qua nhiều thế hệ. - Mật độ gieo sạ: Mật độ gieo sạ thích hợp từ 80 -120kg/ha. Trước khi gieo sạ cần phải xử lý hạt giống bằng thuốc Cruiser plus, khi gieo sạ nên áp dụng biện pháp gieo sạ hàng để tiện lợi cho việc chăm sóc và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. - Sử dụng phân bón hợp lý: Tùy theo từng giống, từng chân đất, từng mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng mà bón phân hợp lý, cân đối đạm, lân, kali để cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Để thực hiện vấn đề này cần áp dụng biện pháp bón phân theo bảng so màu lá. - Bảo vệ và tăng cường hoạt động của các loài thiên địch sẵn có trên ruộng lúa, đặc biệt là thiên địch của rầy nâu + Tạo nơi cư trú cho thiên địch ẩn nấp sau mỗi vụ gieo trồng + Thực hiện các kỹ thuật canh tác giúp thiên địch phát triển như giữ cho ruộng đủ ẩm, gieo trồng mật độ thích hợp … + Hạn chế việc phun thuốc hóa học. - Sử dụng các chế phẩm sinh học để phun phòng ngay từ đầu vụ như: Bemetent WP, Ometar… - Quản lý rầy nâu bằng chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM. - Sử dụng giống lúa ít nhiễm rầy, giống lúa chất lượng tốt để gieo sạ: Những năm gần đây do gieo sạ nhiều những giống nhiễm rầy trong vụ Đông Xuân nên làm rầy nâu bùng phát thành dịch. Vì vậy cần thay thế một số giống nhiễm rầy hiện nay đang sản xuất trên địa bàn tỉnh như: Uải 32, KD 18….
II. Biện pháp trừ:
- Phải thường xuyên thăm đồng, phát hiện rầy sớm để có biện pháp xử lý kịp thời: Để phát hiện rầy cần: kiểm tra kỹ gốc lúa; kiểm tra ít nhất 5 điểm trên 1 đám ruộng( vì rầy thường phát sinh từng ổ trong ruộng lúa). - Khi Phát hiện rầy nâu có mật độ 3 con/dảnh thì nên phun thuốc để trừ: Trước khi phun thuốc trừ rầy cần cho nước vào ruộng từ 5-15 cm, nếu ruộng tốt, cây cao phải tiến hành rạch luống, chiều rộng từ 1- 1,2 m; lưu ý không để ruộng ngã tạo thành mái che. *Việc phun thuốc trừ rầy phải được thực hiện như sau: + Lúa giai đoạn từ sau khi gieo sạ – 30 ngày tuổi: Nếu phát hiện rầy trưởng thành( có thể mang nguồn bệnh) xâm nhập di trú từ vụ trước chuyển sang có mật số trên 3 con/dảnh thì sử dụng các loại thuốc như: Bassa 50 EC, Trebon 10 EC, Dantotsu 16SG, Oshin 20 WP, Admire 50EC... để phun. Lưu ý ưu tiên sử dụng các loại thuốc lưu dẫn, có tác dụng trừ rầy non và rầy trưởng thành nhằm bảo vệ thiên địch trên ruộng lúa. + Giai đoạn lúa từ 30 ngày – chín, khi phát hiện mật độ > 3 con/dảnh thì phun thuốc phòng trừ. Khi phun Phải thực hiện theo nguyên tác 4 đúng: Đúng thuốc: Lúa giai đoạn từ 30 ngày – đòng: Đối với rầy non tuổi 1 – 3 thì ưu tiên sử dụng các loại thuốc như: Applaud 10WP, Butyl 10WP; Đối với rầy non+ rầy trưởng thành thì sử dụng các loại thuốc như: Chess 50 WG, Sutin 5EC, Penalty 10WP... Đối với lúa giai đoạn trỗ–chín: ưu tiên sử dụng các loại thuốc diệt rầy trực tiếp. Cụ thể như: Nếu mật số rầy dưới 6000 con/m2 thì dùng các loại thuốc như: Trebon 5EC, Bassa 50EC, Admire 50EC, Alika 247 ZC... Trường hợp mật số rầy trên 6000 con/m2 thì dùng hỗn hợp các loại thuốc vừa diệt trực tiếp và thuốc lưu dẫn: Bassa 50EC + Dantotsu; Trebon 10EC + Dantotsu; Bassa 50EC + Applaud 10WP. Phun đúng liều lượng và nồng độ: Theo hướng dẫn trên bao bì của mỗi loại thuốc và hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành BVTV ở địa phương Phun đúng lúc: Phun khi rầy ở tuổi 1-3. Không phun thuốc khi cây lúa đang nở hoa, thụ phấn. Nên phun thuốc vào các buổi chiều mát hay lúc sáng sớm. Phun đúng cách: Rầy nâu thường tập trung ở phần gốc của cây lúa để hút nhựa. Vậy khi phun thuốc phải hướng vòi phun xuống sát phần gốc của cây lúa để rầy dễ bị dính thuốc.. Sau khi phun thuốc 3-5 ngày, kiểm tra ruộng nếu phát hiện mật độ rầy còn trên. 2.000 con/m2 thì tiến hành phun thuốc lại lần 2, thuốc lần 2 khác so thuốc lần 1./. |