|
Thực hiện quyết định số 843/QĐ-UBND, ngày 22/12/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc giao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước năm 2010. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Định đã chỉ đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với các huyện, xã trong toàn tỉnh để lấy mẫu nước tiến hành xét nghiệm chất lượng nước sinh hoạt nông thôn. Trung tâm Nước đã liên hệ làm việc và lấy mẫu nước trên địa bàn 6 huyện và các xã hải đảo thành phố Quy Nhơn từ 30/6/2010 đến 25/10/2010. Đối tượng kiểm tra là các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, công trình cấp nước sinh hoạt nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào) quy mô hộ gia đình vùng nông thôn tỉnh Bình Định. 1.Số lượng các công trình được kiểm tra đánh giá Công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: Kiểm tra thực tế hiện trạng các công trình và lấy mẫu để xét nghiệm 45 mẫu của 45 công trình. Công trình cấp nước nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào) quy mô hộ gia đình: Kiểm tra thực tế hiện trạng các giếng và lấy mẫu xét nghiệm 250 mẫu của 250 hộ gia đình trong đó có 41 mẫu giếng khoan, 209 mẫu giếng đào (Địa phương lấy mẫu nước: Tuy Phước, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Phù Mỹ, Hoài Ân, An Lão và Thành Phố Quy Nhơn) 2.Hình thức kiểm tra Đối với các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: Công trình có hệ thống xử lý hoàn chỉnh cán bộ Trung tâm Nước đến trực tiếp lấy mẫu tại các bể chứa nước sạch về phòng thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu hoá lý, vi sinh và hàm lượng clo dư; công trình chỉ xử lý qua lắng, lọc thì kiểm tra các chỉ tiêu hoá lý và vi sinh. Đối với các công trình nước nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào) quy mô hộ gia đình: Cán bộ Trung tâm Nước đến trực tiếp các giếng nước của các hộ gia đình về phòng thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu hoá lý và vi sinh. 3.Kết quả kiểm tra, đánh giá Kết quả 31 công trình tự chảy và 14 công trình bơm dẫn xét nghiệm 45 mẫu nước. Số mẫu đạt chỉ tiêu hoá lý là 4/45 mẫu, tỷ lệ 9%. Số mẫu đạt chỉ tiêu vi sinh là 11/45mẫu, tỷ lệ 24%. Số mẫu đạt chỉ tiêu hoá lý và vi sinh 5/45mẫu, tỷ lệ 11%. Kết quả công trình cấp nước nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào) quy mô hộ gia đình, kiểm tra 250 mẫu, số mẫu đạt chỉ tiêu hoá lý là 164/250 mẫu, tỷ lệ 66%. Số mẫu đạt chỉ tiêu vi sinh là 184/250 mẫu, tỷ lệ 74%. Số mẫu đạt chỉ tiêu hoá lý và vi sinh 125/250 mẫu, tỷ lệ 50%. 4. Đánh giá chung và đề suất kiến nghị a. Đánh giá chung Công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: Còn một số công trình cấp nước tập trung chưa có hệ thống xử lý hoàn chỉnh, đặt biệt các trạm chưa tuân thủ đúng quy trình khử trùng. Chỉ có 12/45 trạm có hệ thống khử trùng, chất lượng nước chưa đảm bảo theo “QCVN 02:2009/BYT”. Công trình cấp nước nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình Nhiều giếng nước vẫn còn ở gần các chuồng trại chăn nuôi, rãnh nước, sàn giếng bị nứt dễ thấm nước bẩn bề mặt xuống giếng, chưa chú ý giữ vệ sinh gàu múc nước, giếng nuớc không nắp đậy. Chất lượng nước còn đục, có màu, một số giếng có hàm lượng sắt quá cao chưa an toàn cho người sử dụng ,chưa đảm bảo theo “QCVN 02:2009/BYT”. b. Đề suất, kiến nghị: Để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực cấp Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh đảm bảo mục tiêu cung cấp đầy đủ và an toàn cho người sử dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt “QCVN 02:2009/BYT, ban hành theo Thông tư số:05/2009/TT-BYT, ngày 17/6/2009 của Bộ Y tế”. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn Bình Định kiến nghị: Các đơn vị quản lý các công trình cấp nước tập trung quan tâm hơn nữa đến công tác quản lý, khai thác, từng bước nâng cấp các công trình cấp nước đã đầu tư với công nghệ xử lý hoàn chỉnh hơn. Tất cả các trạm cấp nước tập trung phải thực hiện nghiêm túc quy trình khử trùng nước. Đảm bảo lượng clo dư sau khi khử trùng đạt 0.3-0.5 mg/l trước khi cấp cho người sử dụng. Cần trang bị dụng cụ, hoá chất để thử clo nhanh Tăng cường công tác truyền thông giáo dục, nâng cao nhận thức cộng động về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường. Định kỳ xét nghiệm và lưu giữ các kết quả xét nghiệm để điều chỉnh chất lượng nước, thường xuyên vệ sinh bể lắng, lọc theo dõi độ đục, thời gian lọc để kịp thời rửa lọc. Định kỳ vệ sinh khu vực lấy nước nguồn, không cho người tắm giặt, chăn thả gia xúc, gia cầm vào khu vực hành lang bảo vệ nguồn nước. Công trình cấp nước nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình chính quyền cơ sở hướng dẫn người dân cải tạo, thau rửa giếng định kỳ, di dời chuồng trại và các nguồn gây ô nhiễm cách xa giếng, gàu múc nước không để dưới sàn, giếng phải có nắp đậy. Vận động người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, hướng dẫn xử lý nước tại nhà bằng các biện pháp truyền thống đơn giản làm bể lọc phèn, bể lọc chậm cát sỏi, đun sôi nước trước khi uống. Việc tiến hành giám xác, đánh giá chất lượng nước sinh hoạt nông thôn năm 2010 ở các công trình cấp nước sinh hoạt đã cho thấy bước đầu đạt một số kết quả khả quan, nhưng vẫn còn một số công trình cần phải tiếp tục khắc phục để đạt chất lượng nước sạch theo Quy chuẩn Việt Nam 02:2009/BYT của Bộ Y tế nhằm cải thiện sức khoẻ, đời sống của nhân dân nông thôn Bình Định./. |