Đang truy cập  : Home Tin tức - sự kiện Tin hoạt động ngành Kết quả triển khai các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản năm 2010 và hướng nhân rộng trên địa bàn tỉnh năm 2011
Kết quả triển khai các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản năm 2010 và hướng nhân rộng trên địa bàn tỉnh năm 2011 PDF.
Tin hoạt động ngành
Viết bởi Hải Bình   
Thứ ba, 15 Tháng 2 2011 23:21
Bình Định là tỉnh Duyên hải có điều  kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề cá với chiều dài bờ biển khoảng 134km cùng nhiều sông ngòi, đầm phá. Trong đó có các đầm Thị Nại, Đề Gi và Trà Ổ là những thủy vực đặc trưng với hệ sinh thái khá đa dạng và phong phú  về nguồn lợi thủy sản (NLTS); đặc biệt là các loài quý hiếm như các loài chình mun, chình bông….cùng nhiều  loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, hàu, xìa…. số lượng lao động tham gia và có thu nhập chính từ nghề thủy sản chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là nghề đi biển (7875 tàu cá, 51.260 lao động)  và nghề nuôi thủy sản ven bờ (4.805 hộ; 10.879 lao động) (Theo báo cáo năm 2009 của Cục thống kê). 
 
 
Ra quân đồng quản lý nuôi trồng thủy sản ở đầm Thị Nại (Ảnh: BBT) 
 
Tuy nhiên, cùng với đà tăng dân số và phát triển kinh tế, các hoạt động khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản tại các vùng ven biển, ven đầm ngày càng gia tăng và bộc lộ nhiều nguy cơ đe dọa đến môi trường và NLTS như khai thác titan bừa bãi, chặt phá rừng ngập mặn,  khai thác san hô, sử dụng các công cụ khai thác có tính hủy diệt, tình trạng khai thác tận thu nguồn lợi (kể cả thủy sản và các nguồn lợi khác) tại các thủy vực là một vấn đề nan giải đối với các nhà quản lý. Vì vậy tìm ra phương thức quản lý phù hợp nhằm mục đích bảo vệ và khai thác bền vững NLTS là hết sức cần thiết. 
Đồng quản lý là  phương thức quản lý tập trung vào cách tiếp cận liên quan đến người sử dụng – chính là các ngư dân – hoạt động dưới dạng quản lý phối hợp hoặc chia sẻ với các cấp chính quyền địa phương. Qua thực tế áp dụng trong   hơn   một   thập kỷ 
qua ở nhiều nước đang phát triển có điều kiện gần giống với Việt Nam như Philippin, Indonesia….phương thức đồng quản lý trong nghề cá quy mô nhỏ được đánh giá là hiệu quả.
Tại Bình Định, phối hợp với các chương trình, dự án hỗ trợ, Chi cục Khai thác & BVNLTS  đã xây dựng 04 mô hình đồng quản lý  NLTS tại các thủy vực trọng điểm: đầm Trà Ổ - Phù Mỹ, đầm Thị Nại - Tuy Phước, vùng ven biển phường Ghềnh Ráng và vùng ven biển xã Nhơn Hải thuộc TP Quy Nhơn. Trong đó mô hình đồng quản lý NLTS đầm Trà Ổ là mô hình đầu tiên được xây dựng tại Bình Định vào năm 2007. Đến cuối năm 2010 hầu hết các mô hình đã hình thành xong về tổ chức, cơ chế và đi vào hoạt động.
Kết quả triển khai hoạt động đồng quản lý NLTS tại Bình Định: 
1.Hình thành các tổ chức đồng quản lý NLTS có sự tham gia của cộng đồng ngư dân:
Dựa trên nguyên tắc chính quyền chia sẻ quyền và trách nhiệm quản lý NLTS với cộng đồng ngư dân -những người sử dụng NLTS, các tổ chức đồng quản lý tại Bình Định đều được hình thành với sự tham gia của chính quyền và đại diện cộng đồng
ngư dân. Tại đầm Trà Ổ, đầm Thị Nại đã hình thành  các Hội đồng điều hành liên xã quản lý NLTS, mỗi xã có 2 thành viên tham gia Hội đồng (1 người đại diện cho chính quyền và 01 người đại diện cho cộng đồng ngư dân). Tại các xã đều bầu chọn 1 nhóm hạt nhân (hoặc nhóm đồng quản lý NLTS) đại diện cộng đồng những người sử dụng nguồn lợi thủy sản tại địa phương. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 4 Hội đồng đồng quản lý nguồn lợi thủy sản và 12 nhóm ĐQL với tổng số thành viên tham gia gần 150  người.
2.Xây dựng cơ chế hoạt động đồng quản lý:
Soạn thảo và tham mưu cho chính quyền các cấp ký quyết định ban hành các văn bản nhằm tạo hành lang pháp lý để đảm bảo thực thi cơ chế đồng quản lý  là điều kiện tiên quyết trong việc xây dựng các mô hình ĐQL. Trong 4 năm qua, Chi cục KT&BVNLTS đã tham mưu cho các cấp chính quyền phê duyệt 04 bản quy chế tổ chức và hoạt động, 02 bản Quy ước cộng đồng, 02 bản Quy chế về bảo vệ NLTS. Trong đó Quy chế Quản lý, bảo vệ và phát triển NLTS đầm Trà Ổ do UBND tỉnh ủy quyền cho UBND huyện Phù Mỹ ký quyết định ban hành năm 2007 là bản Quy chế đầu tiên về đồng quản lý NLTS tại Bình Định Những văn bản pháp quy nêu trên đều được xây dựng trên nguyên tắc nâng cao vai trò trách nhiệm của cộng đồng ngư dân, gắn quyền khai thác sử dụng nguồn lợi thủy sản với trách nhiệm bảo vệ và phát triển NLTS, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Các văn bản này đều được xây dựng trên cơ sở các quy định của các  cộng đồng ngư dân tham gia góp ý và  thống nhất thông qua.
3.Thực thi cơ chế đồng quản lý tại các vùng nước trọng điểm:
Hoạt động thực thi cơ chế ĐQL được chú trọng vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, hội thảo, phát thanh, họp dân, phát tờ rơi..., lấy ý kiến tham vấn cộng đồng xây dựng Quy ước BVNLTS. Trong 4 năm qua, đã có hàng chục lớp tập huấn nâng cao nhận thức về BVNLTS được tổ chức với hàng ngàn lượt người tham dự. 
Các nhóm ĐQL và Hội đồng được học tập nâng cao nghiệp vụ hàng năm, được đi tham quan học tập kinh nghiệm các mô hình ĐQL tại các tỉnh khác như Khu bảo vệ Hệ sinh thái biển Rạn Trào (Khánh hòa), mô hình ĐQL NLTS tại phá Tam Giang –Thừa thiên Huế, Khu bảo tồn Vịnh biển Nha Trang... nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng đảm bảo đủ năng lực tham gia hoạt động quản lý NLTS.
Một trong những điều kiện để các mô hình ĐQL thành công là tổ chức hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng ngư dân mà trước mắt là các nhóm ngư dân tham gia tổ chức ĐQL. Hoạt động hỗ trợ sinh kế bao gồm việc tập huấn chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao, hỗ trợ các hộ nghèo tiếp cận kỹ thuật nuôi đồng thời hỗ trợ một phần kinh phí về giống, vật tư, thức ăn để thực hiện mô hình trình diễn. Từ nguồn kinh phí của chương trình FSPSII, hàng trăm lớp tập huấn đã được tổ chức tại hầu hết các xã phường trong toàn tỉnh, hàng ngàn hộ ngư dân nghèo được tiếp thu kỹ thuật nuôi các loài thủy đặc sản, hàng chục mô hình trình diễn nuôi thủy sản đạt hiệu quả cao. Tại Nhơn Hải, nhóm ĐQL được hỗ trợ kỹ thuật trồng rong nho Nhật bản, tại Mỹ Thắng được hỗ trợ kỹ thuật nuôi chình, bống tượng... 
Về phía chính quyền, các địa phương tham gia ĐQL như Mỹ Thắng, Mỹ Đức, Mỹ Châu, Mỹ Lợi (Phù Mỹ), Phước Sơn (Tuy Phước), Nhơn Hải (Quy Nhơn)... đã trích từ nguồn kinh phí địa phương chi cho các hoạt động đồng quản lý: tổ chức tuyên truyền, vận động, tổ chức tuần tra kiểm soát, tổ chức thả tôm cá tái tạo NLTS. Về phía cơ quan chuyên ngành, Chi cục KT&BVNLTS cùng các đơn vị trong ngành cũng tìm các nguồn kinh phí từ 
ngân sách hoặc đề tài dự án để hỗ trợ hoạt động  ĐQL.
Hàng năm Chi cục KT&BVNLTS phối hợp với các Hội đồng ĐQL, chính quyền các địa phương tiến hành Hội thảo đánh giá rút kinh nghiệm trong thực thi mô hình.
Đánh giá hiệu bước đầu của các mô hình ĐQL đã xây dựng và hướng nhân rộng trong năm 2011:
ĐQL là một quá trình lâu dài và liên tục, việc đánh giá hiệu quả của mô hình ĐQL cần   phải qua một thời gian nhiều năm hoạt động. Tuy nhiên, qua 4 năm thực hiện tại Bình Định, chính quyền các địa phương và cộng đồng ngư dân đều  đánh giá cao hiệu quả của các mô hình này, nhất là mô hình ĐQL NLTS đầm Trà Ô. Hiệu quả của các mô hình ĐQL thể hiện ở sự quan tâm của các cấp chính quyền đến công tác BVNLTS, sự tham gia tích cực của các nhóm ĐQL, sự ủng  hộ nhiệt tình của cộng đồng ngư dân. Tại vùng đầm Trà Ổ, sau thời gian 4 năm thực hiện mô hình, NLTS trong đầm đã phát triển dồi dào hơn cả về số lượng và kích cỡ, nhân dân ven đầm rất phấn khởi với kết quả khả quan này.

Để nhân rộng mô hình trong năm 2011 và những năm tới, cần giải quyết được các vấn đề mấu chốt: kinh phí cho hoạt động ĐQL. Trong 4 năm qua, kinh phí xây dựng mô hình chủ yếu từ các nguồn đề tài, dự án và sự đóng góp của các tổ chức, các cơ quan chuyên ngành thủy sản. Tuy nhiên để duy trì hoạt động ĐQL, ngành NN&PTNT cần tham mưu cho UBND tỉnh xác định rõ nguồn và cơ chế tài chính cho hoạt động ĐQL ở Bình Định.
Về phía cơ quan chuyên môn, Chi cục KT&BVNLTS cần làm tốt vai trò tư vấn, phối hợp, hỗ trợ, giám sát  thực thi các mô hình ĐQL một cách thường xuyên, liên tục.
Trong năm 2011, Chi cục KT&BVNLTS sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương củng cố 04 mô hình đang thực hiện với các hoạt động nâng cao năng lực, hỗ trợ sinh kế và truyền thông. Thêm vào đó, việc khảo sát để mở rộng và xây dựng thêm mô hình ĐQL tại vùng Đầm Đề Gi cũng được đưa vào kế hoạch trong những năm tiếp theo./.

 
<< Trang trước                    Trang sau >>
 
 

Thư viện ảnh

Lịch công tác tuần

Thông tin dự báo

 
 

 
 
 
 

Giới thiệu doanh nghiệp


Thông tin

Hỗ trợ trực tuyến


Bạn đọc có thể trao đổi trực tiếp hoặc gọi điện thoại đến số:  056.3812332

Bình chọn

Website Sở nông nghiệp ...
 

Xem tin theo ngày

 «   Tháng năm 2012   »

CTTTTTT
   1  2  3  4  5
  6  7  8  9101112
13141516171819
20212223242526
2728293031 
Julianna Willis Technology

Đăng kí nhận tin

Quý doanh nghiệp có thể đăng kí email tại đây để nhận các bản tin quan trọng qua email.







Đang truy cập

Hiện có 35 khách Trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

mod_vvisit_counterHôm nay353
mod_vvisit_counterTrong tuần1281
mod_vvisit_counterTrong tháng8795