Đang truy cập  : Home Tin tức - sự kiện Tin hoạt động ngành Chăn nuôi Bình Định 5 năm nhìn lại và vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay
Chăn nuôi Bình Định 5 năm nhìn lại và vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay PDF.
Tin hoạt động ngành
Viết bởi Trung Tín   
Thứ ba, 15 Tháng 2 2011 23:26
 
Tỉnh Bình Định là tỉnh có ngành chăn nuôi khá phát triển so với các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ. Qua 10 năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức phát triển chăn nuôi, mặc dù có những khó khăn nhất định, như tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá cả thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao, song ngành chăn nuôi Bình Định đã có những bước phát triển tương đối toàn diện; năng suất, chất lượng, hiệu quả trong chăn nuôi tăng cao, bước đầu hình thành các vùng sản xuất chăn nuôi hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Chuyển dịch cơ cấu trồng trọt : chăn nuôi trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng tích cực. Tỷ lệ trồng trọt: chăn nuôi năm 1996 tương ứng 73,4%: 24,8%, tỷ lệ này năm 2010 tương ứng 58,3%: 38,6%.
 
 
Chăn nuôi bò lai Brahman ở An Nhơn (Ảnh: Việt Hùng)
 
Về chăn nuôi bò: Đàn bò của tỉnh giai đoạn 2005-2010 có xu hướng giảm đàn, năm 2006 có số lượng đàn bò cao nhất là 340.028con, năm 2010, tổng đàn bò của tỉnh là 276.484 con. Đàn bò nội có khối lượng trưởng thành thấp, trung bình bò đực là 180-200 kg và bò cái từ 150-160 kg, tỷ lệ thịt xẻ thấp, khoảng 43-44 %. Đàn bò lai đến năm 2010 chiếm tỷ lệ 65% so tổng đàn (tỷ lệ bò lai cả nước là 30%), chủ yếu là lai Zê bu (lai Sind, lai Sahiwal và lai Brahman). Bò lai có tăng trọng và sinh trưởng nhanh, khối lượng trưởng thành từ 230-270 kg và tỷ lệ thịt xẻ từ 49-50%. Bò lai thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và phương thức chăn nuôi bán chăn thả của tỉnh. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng cao hơn so với tốc độ tăng đàn. Tổng sản lượng thịt bò từ 10.904 tấn năm 2005 tăng lên 21.910 tấn năm 2010, tăng gấp 2 lần so với năm 2005, trong khi đó, tổng đàn năm 2010 giảm so với năm 2005 là 4,4%). Điều đó khẳng định rằng, lai tạo đàn bò của tỉnh bằng giống bò nhóm zebu đã mang lại hiệu quả cao, chăn nuôi bò dần đi vào chất lượng, tăng trọng lượng hơi xuất chuồng và rút ngắn thời gian nuôi thịt. Chăn nuôi tập trung, trang trại đă hình thành và bước đầu phát triển. Theo số liệu thống kê năm 2009 có 15 trang trại chăn nuôi bò, với 686 con, trung bình 1 trang trại có 45con. Tuy nhiên, phần lớn chăn nuôi bò thịt vẫn là chăn nuôi nhỏ, phân tán trong các nông hộ, công nghệ chăn nuôi đổi mới chưa nhiều, vẫn dựa vào chăn thả tự nhiên, bên cạnh đó, một số cơ sở chăn nuôi tập trung đă đầu tư cải tạo nâng cấp chuồng trại đạt yêu cầu kỹ thuật, áp dụng công nghệ tin học trong quản lý đàn bò (Trang trại bò sữa Bình Định) và phát triển mạnh công nghệ vỗ béo bò thịt.
Về chăn nuôi lợn: Giai đoạn 2005-2010, do tình hình dịch bệnh phức tạp và giá thức ăn liên tục tăng cao, tổng đàn lợn khu vực Duyên hải nam trung bộ giảm 4,38%, Bình Định có tỷ lệ giảm thấp nhất là 4,06%/năm. Đến năm 2010, tổng đàn lợn của tỉnh là 569.373 con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 84.127 tấn, tăng 53% so năm 2005 là 54.710 tấn, tốc độ tăng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng liên tục tăng qua các năm từ 2005-2010, trong khi đó tổng đàn giai đoạn 2005-2010 có xu hướng giảm, chứng tỏ tổng đàn lợn dần đi vào ổn định và tăng về chất lượng đàn lợn, như tăng trọng lượng xuất chuồng, ... Về phương thức và công nghệ chăn nuôi: Những năm gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền thống mà đặc trưng là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp, chăn nuôi lợn theo phương thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển. Tính đến năm 2009 toàn tỉnh có 228 trang trại với tổng đàn là 19.969 con. Đây là loại hình tổ chức sản xuất có nhiều lợi thế giảm chi  phí đầu vào, vì đă tập trung các 
dịch vụ như cung cấp con giống, thức ăn công nghiệp, thú y, thụ tinh nhân tạo và bao tiêu sản phẩm. Hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống tự động là những tiến bộ kỹ thuật về chuồng trại đã được áp dụng tại đa số các trang trại, gia trại chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn ở tỉnh vẫn phổ biến là chăn nuôi nhỏ, phân tán trong nông hộ, năng suất chăn nuôi thấp, giá thành cao. Công tác chọn lọc, nuôi dưỡng và quản lý đực giống chưa tốt; giết mổ, chế biến thịt phổ biến còn thủ công, chưa đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
Về chăn nuôi gia cầm: Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, tổng đàn gia cầm Bình Định khá ổn định và đạt cao nhất so các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ. Giai đoạn 2001-2005, do tình hình dịch bệnh phức tạp, đặc biệt tình hình dịch cúm gia cầm, hầu hết các tỉnh tổng đàn gia cầm đều giảm, Bình Định giảm 3,85%/năm, giai đoạn 2005-2010. Sau khi khắc phục dịch cúm gia cầm, đàn gia cầm Bình Định tăng 16,4%/năm, đạt 5.619.200 con, chiếm tỷ lệ hơn 30% so tổng đàn khu vực Duyên hải Nam trung bộ. Tổng đàn năm 2010 tăng so với năm 2005 là 88%, trong khi đó, sản lượng thịt gia cầm hơi giết, bán là 9.588 tấn, tăng gấp 2,8 lần so năm 2005, sản lượng trứng gia cầm 298.000 nghìn quả, tăng gấp 3,1 lần so năm 2005. Điều đó, cho thấy rằng vòng quay trong chăn nuôi gia cầm cao, người chăn đã thay đổi con giống gia cầm địa phương bằng con giống cao sản có chu kỳ sinh trưởng phát triển ngắn, sức sản xuất cao và nuôi theo phương thức trang trại có đầu tư thâm canh cao về chuồng trại, thức ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy có sự chuyển biến lớn về chăn nuôi gia cầm trang trại tập trung, song vẫn còn tồn tại phương thức chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ, mang tính tận dụng. Khả năng kiểm soát dịch bệnh và môi trường còn yếu; thị trường chăn nuôi gia cầm biến động. Giết mổ, chế biến gia cầm tập trung, công nghiệp mới chỉ là khởi đầu và đang gặp nhiều khó khăn. Thói quen tiêu thụ gia cầm sống, buôn bán, giết mổ thủ công, phân tán đang là một trong những nguyên nhân lây lan phát tán bệnh dịch. 
Về thức ăn chăn nuôi: Thức ăn chăn nuôi đa dạng và phong phú, ngoài lượng lớn ngũ cốc được sản xuất trong tỉnh còn có lượng ngũ cốc được nhập từ các tỉnh Tây nguyên, đây là nguồn thức ăn lớn và ổn định để phát triển chăn nuôi lợn và gia cầm. Toàn tỉnh có 4 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, tổng sản lượng sản xuất hàng năm gần 200 nghìn tấn; các đại lý phân phối các hãng thức ăn lớn khác như C.p, Proconco, ... hàng năm cung ứng lượng lớn thức ăn cho ngành chăn nuôi ở Bình Định; Theo báo cáo của các địa phương, diện tích trồng cỏ cho chăn nuôi gia súc năm 2008 là 546 ha, sản lượng khoảng 83 nghìn tấn, đáp ứng khoảng 15 nghìn con trâu bò trong tổng đàn trâu bò là 302 nghìn con (đáp ứng 5% tổng đàn trâu, bò). 
Về giết mổ và chế biến các sản phẩm chăn nuôi: Theo báo cáo của các huyện, thành phố, năm 2009 toàn tỉnh có 600 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, quy mô nhỏ, giết mổ thủ công, phân tán và xen kẽ trong khu dân cư. Phần lớn các cơ sở giết mổ chưa đáp ứng được điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Đa số các cơ sở buôn bán thịt của tư nhân chưa có thiết bị bảo quản lạnh; người dân chưa có thói quen ăn thịt lạnh. Các tư thương có gia súc, gia cầm không muốn đưa vào giết mổ tập trung vì phải đóng chi phí giết mổ.
Công tác khuyến nông và thị trường chăn nuôi: Công tác khuyến nông về chăn nuôi không ngừng được tăng cường, nhiều quy trình kỹ thuật tiên tiến và mô hình chăn nuôi nông hộ, trang trại có hiệu quả được trình diễn và khuyến cáo mở rộng ra sản xuất đại trà. Những mô hình khuyến nông chăn nuôi có hiệu quả và quy mô triển khai rộng ra sản xuất thời gian qua là: chương trình nạc hoá đàn lợn, cải tạo đàn bò vàng bằng giống bò zêbu, vỗ béo bò, mô hình chăn nuôi gà thả vườn, mô hình chăn nuôi vịt, ngan cao sản, mô hình nuôi vịt, ngan trên cạn, mô hình biogas trong xử lý môi trường; mô hình trồng cỏ thâm canh trong các nông hộ và các chương trình đào tạo, tập huấn quản lý nhà nước về giống, vật tư chăn nuôi. Công tác thông tin, thị trường về chăn nuôi những năm qua, nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức. Thiếu những điều tra, khảo sát, nghiên cứu mang tính chiến lược về thị trường các sản phẩm chăn nuôi ở trong và ngoài tỉnh làm cơ sở để định hướng, hoạch định chiến lược và các chính sách phát triển ngành chăn nuôi. Cập nhật thông tin về tiến bộ khoa học công nghệ, sản xuất chăn nuôi chăn nuôi hạn chế. 
Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi Bình Định trong giai đoạn hiện nay
Trong thời kỳ kinh tế thị trường, kinh tế nhiều thành phần như hiện nay, chúng ta không chờ đợi phải có đủ một loạt các hệ thống như chăn nuôi công nghiệp, chế biến, bao bì đóng gói, thị trường,…như các nước trên thế giới rồi mới đưa ngành chăn nuôi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà dựa vào thành tựu phát triển chăn nuôi của tỉnh trong thời gian qua, từng khâu một, chúng ta công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi của tỉnh.
Thứ nhất, có sự kết hợp hài hòa 3 phương thức chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay: Ở các nước có ngành chăn nuôi trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến, chúng ta đều nhận thấy có 3 kiểu chăn nuôi tồn tại đến bây giờ, đó là: Chăn nuôi tận dụng thiên nhiên (hay còn gọi là chăn nuôi quãng canh), chăn nuôi gia đình nông dân (hay còn gọi là chăn nuôi kiêm dụng, vừa có thể là chuyên dụng) và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp (hay còn gọi là chăn nuôi thâm canh, chăn nuôi chuyên dụng). Qua đó cho thấy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chăn nuôi trên thế giới đã sử dụng những ưu điểm về nhiều mặt như: địa lý, khí hậu, diện tích, dân số nông nghiệp,… để phát triển ngành chăn nuôi đa dạng của mình. Vì vậy, chúng ta cần phối hợp hài hòa chăn nuôi quãng canh, chăn nuôi gia đình nông dân và chăn nuôi thâm canh hiện đại kiểu công nghiệp để từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi. Ví dụ như: Ở những nơi có rừng, đồi cỏ có diện tích rộng, chúng ta thực hiện chăn nuôi quãng canh để phát triển chăn nuôi bò thịt, trâu thịt, dê thịt; Chăn nuôi gia đình nông dân hiện nay chiếm hơn 90% tổng số đầu gia súc, gia cầm, với thức ăn công nghiệp như hiện nay, chăn nuôi gia đình ở nông thôn trên đà phát triển tốt, một nghề có lợi và hứng thú cho nông dân tránh di dân ra thành thị.
Thứ hai, xây dựng hệ thống cung cấp con giống cao sản (tăng trọng nhanh, sản xuất nhiều sản phẩm/1 chu kỳ, chỉ số tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm thấp) từ tỉnh đến xã đủ mạnh, giá thành rẻ, đáp ứng đủ nhu cầu con giống của người chăn nuôi.
Thứ ba, Ổn định và nâng cao chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp, đi đôi với việc mở rộng diện tích trồng cây thức ăn chăn nuôi và tăng cường chuyển giao công nghệ chế biến, bảo quản thức ăn chăn nuôi.
Thứ tư, có hệ thống bảo vệ sức khỏe vật nuôi hữu hiệu: Củng cố và nâng cao chất lượng phòng, trị bệnh gia súc, gia cầm cho mạng lưới thú y từ tỉnh đến xã; Có hệ thống chẩn đoán chính xác và điều trị hữu hiệu; Có đầy đủ vaccine, thuốc,… để phòng trị bệnh gia súc, gia cầm.
Thứ năm, có chuồng trại phù hợp cho từng loại vật nuôi trong từng điều kiện sinh thái, nâng cao được năng suất lao động, bảo đảm sức khỏe vật nuôi, không lãng phí thức ăn,…
Thứ sáu, có hệ thống bảo vệ môi trường giúp các nhà chăn nuôi tránh được ô nhiễm và sử dụng tốt các loại phân chuồng.
Thứ bảy, có hệ thống tư vấn nông nghiệp để giúp người chăn nuôi phát triển sản xuất.
Thứ tám, có hệ thống thu mua sản phẩm, được người chăn nuôi tán thành, đảm bảo người chăn nuôi có lãi để giúp các nhà chăn nuôi an tâm sản xuất, phát triển chăn nuôi.
Thứ chín, có hệ thống giết mổ động vật hiện đại, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ mười, có hệ thống marketting chính xác, phục vụ an toàn cho sản xuất chăn nuôi./.

 
<< Trang trước                    Trang sau >>
 
 

Thư viện ảnh

Lịch công tác tuần

Thông tin dự báo

 
 

 
 
 
 

Giới thiệu doanh nghiệp


Thông tin

Hỗ trợ trực tuyến


Bạn đọc có thể trao đổi trực tiếp hoặc gọi điện thoại đến số:  056.3812332

Bình chọn

Website Sở nông nghiệp ...
 

Xem tin theo ngày

 «   Tháng năm 2012   »

CTTTTTT
   1  2  3  4  5
  6  7  8  9101112
13141516171819
20212223242526
2728293031 
Julianna Willis Technology

Đăng kí nhận tin

Quý doanh nghiệp có thể đăng kí email tại đây để nhận các bản tin quan trọng qua email.







Đang truy cập

Hiện có 35 khách Trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

mod_vvisit_counterHôm nay353
mod_vvisit_counterTrong tuần1281
mod_vvisit_counterTrong tháng8795