Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão, lụt ngày càng diễn biến bất thường với tần suất và cường độ ngày càng mạnh hơn vì vậy công tác PCLB & TKCN ở đã được các cấp, các ngành trong tỉnh đặc biệt quan tâm chỉ đạo lồng ghép trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản và thành quả lao động của Nhà nước, tập thể và nhân dân, giảm nhẹ đến mức thấp nhất các thiệt hại do thiên tai gây ra. Để làm tốt công tác PCLB-TKCN năm 2009, căn cứ điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế; Chủ chương, giải pháp trong công tác PCLB-TKCN năm 2009 của tỉnh như sau: 1. Chủ trương - Giai đoạn chuẩn bị thực hiện tốt phương châm “ Phòng tránh và thích nghi để phát triển”. Khi thiên tai xảy ra tổ chức đối phó kịp thời. Khi thiên tai kết thúc tổ chức khắc phục hậu quả khẩn trương và có hiệu quả để sớm ổn định đời sống nhân dân, phục hồi sản xuất và các hoạt động văn hóa, xã hội… - Tất cả các địa phương, đơn vị đều phải lồng ghép công tác PCLB-GNTT trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hàng năm sao cho mỗi công trình phải góp phần giảm nhẹ thiên tai, mỗi công trình giảm nhẹ thiên tai phải phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Giai đoạn trước mắt tập trung ưu tiên đối với các công trình PCLB-TKCN. 2. Giải pháp - Triển khai thực hiện tốt Chương trình, kế hoạch hành động số 17/KH-UBND ngày 09/12/2008 của UBND tỉnh về việc thực hiện Chiến lược Quốc Gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007. - Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến thời tiết, tăng cường năng lực dự tính, dự báo các hình thái thời tiết nguy hiểm, kịp thời thông báo cho các cấp, các ngành và toàn dân biết để chủ động đối phó. - Các sở, ngành, địa phương phải thường xuyên kiện toàn Ban chỉ huy PCLB-TKCN, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật tư sẵn sàng làm tốt công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn theo phương châm “4 tại chỗ”. - Tiếp tục chuyển đổi mùa vụ sản xuất từ 3 vụ sang 2 vụ ở những vùng thường bị ảnh hưởng của thiên tai để tránh mưa lũ chính vụ. - Tăng cường, đẩy mạnh việc trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng chắn gió, cát, rừng ngập mặn ven biển để góp phần giảm nhẹ thiên tai. - Tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, củng cố, nâng cấp các công trình PCLB trong đó ưu tiên hệ thống đê điều và các hồ chứa nước. Tiến hành các biện pháp gia cố tạm thời để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các hồ chứa, hạn chế thấp nhất thiệt hại về đê điều và các công trình PCLB. - Đẩy nhanh việc thực hiện các Dự án di dân tái định cư đã được phê duyệt. Có phương án, kế hoạch đảm bảo an toàn cho các khu dân cư ven biển, hải đảo, vùng lũ quét, vùng thấp trũng thường bị ngập sâu, vùng sạt lở nguy hiểm. Các khu dân cư, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp vùng cửa sông, ven biển phải có phương án sơ tán khẩn cấp khi có nguy cơ mất an toàn. - Tăng cường công tác quản lý tàu thuyền trên sông, trên biển. Củng cố, tăng cường năng lực thông tin cảnh báo, kêu gọi tàu thuyền khi có gió bão, ATNĐ … tháo dỡ vật cản, nạo vét luồng lạch, bến bãi, khu neo đậu tàu thuyền, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền ra vào tránh, trú bão. - Nâng cao năng lực, phương tiện tìm kiếm cứu nạn để làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn nhằm giảm nhẹ thiệt hại về tính mạng cũng như tài sản khi thiên tai xảy ra. - Tổ chức phối hợp lực lượng, phương tiện giữa các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương trong việc hướng dẫn, quản lý phương tiện và nhân dân đi lại qua các tràn, ngầm, các điểm ngập sâu, nước chảy xiết, các bến đò ngang…khi thiên tai xảy ra. - Thực hiện tốt các chính sách xã hội, công tác cứu trợ thiên tai và khắc phục hậu quả bão, lụt, ổn định đời sống nhân dân, khôi phục sản xuất và bảo vệ môi trường sinh thái. - Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao hiểu biết về thiên tai, ý thức tự giác và năng lực của cộng đồng dân cư trong công tác PCLB & TKCN. - Tăng cường tập huấn cho cán bộ quản lý, chỉ đạo phòng, tránh thiên tai nhất là cán bộ ở cấp xã, phường đủ năng lực đối phó có hiệu quả với thiên tai. 3. Các nhiệm vụ trọng tâm trong mừa mưa bão *Đảm bảo an toàn tuyệt đối các hồ chứa nước Hiện nay toàn tỉnh có 156 hồ chứa nước với tổng dung tích hơn 600 triệu m3. Kết thúc mùa mưa lũ năm 2008 có 49 công trình bị xuống cấp nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sự cố. hiện nay các địa phương đã và đang sửa chữa, nâng cấp 08 hồ và đã lập dự án, trình xin nguồn vốn để nâng cấp tiếp 6 công trình khác với tổng kinh phí 156 tỷ đồng, 35 công trình còn lại cần sửa chữa dần trong giai đoạn 2010-2012 tổng kinh phí 306 tỷ đồng. Để chủ động trong công tác PCLB, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các hồ chứa nước, các địa phương, đơn vị quản lý hồ đã kiện toàn Ban chỉ huy PCLB & TKCN, xây dựng phương án, kế hoạch PCLB & TKCN theo phương châm “4 tại chỗ”; thường xuyên kiểm tra, làm tốt công tác duy tu, bảo dưỡng, gia cố, sửa chữa các hư hỏng ngay từ ban đầu. Đối với hồ chứa quá xung yếu, không đảm bảo an toàn ngành Nông Nghiệp &PTNT đã chỉ đạo các biện pháp đảm bảo an toàn kể cả việc không tích nước đối với hồ quá xung yếu và kiểm tra tu bổ, thu dọn vật cản các tuyến đường lên hồ để các phương tiện cơ giới có thể cơ động ứng cứu hồ khi cần thiết. Đối với các hồ chứa nước lớn như Vĩnh Sơn, Định Bình, Núi Một, Thuận Ninh, Hội Sơn đặc biệt là các hồ chứa sử dụng tràn xả sâu và có lưu vực lớn có phương án điều tiết lũ vừa đảm bảo an toàn cho công trình vừa góp phần cắt giảm một phần đỉnh lũ ở hạ du. * Hạn chế các thiệt hại về đê điều Toàn tỉnh có 167,3 km đê và kè bờ sông , 76 km đê kè ngăn mặn, có 28-38 % đã được xây dựng tương đối kiên cố, số còn lại còn rất nhiều tồn tại và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sự cố. Sau mùa mưa lũ năm 2008 toàn tỉnh có 121 điểm với tổng chiều dài gần 32 km đê sông, đê biển bị vỡ và sạt lở nghiêm trọng, ngay sau mưa lũ một số đã được gia cố tạm để kịp sản xuất Đông Xuân 2008-2009. Kết thúc mùa mưa năm 2008 các địa phương đã lập dự án tu bổ, xây dựng 29 đoạn đê, kè xung yếu, với tổng mức đầu tư hơn 200 tỷ đồng, trong đó tỉnh đã hỗ trợ các địa phương 21,2 tỷ đồng để xây dựng, tu bổ 14 dự án, nhiều hạng mục vẫn chưa có kinh phí để thực hiện trong đó có 06 hạng mục rất cấp bách: Đê sông Đại An đoạn Mỹ Bình, Phú Giáo, Sở Tây huyện Phù Cát, Đê Sông Kôn các đoạn Hòa Phong xã Nhơn Mỹ, An Hòa xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, Đê Sông Hà Thanh xã Phước Thành huyện Tuy Phước, Kè Hữu Giang huyện Tây Sơn, và Kè bờ nam sông Hà Thanh TP.Quy Nhơn với tổng kinh phí 104,5 tỷ đồng đến nay vẫn chưa có kinh phí để thực hiện. Để hạn chế các thiệt hại về đê điều, các địa phương đã chủ động huy động mọi nguồn vốn ưu tiên đầu tư hoàn thành kế hoạch tu bổ, sửa chữa đê điều năm 2009 trước 31/8/2009, đồng thời chuẩn bị phương án, kế hoạch hộ đê theo phương châm “4 tại chỗ”, sẵn sàng đối phó với mưa lũ có thể xảy ra trong bất cứ thời gian nào, đồng thời rà soát quy hoạch tiêu úng thoát lũ và quy hoạch đê điều làm cơ sở phê duyệt các dự án đầu tư theo quy định. *Đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản nhân dân Toàn tỉnh có 14.687 hộ với 58.734 nhân khẩu thuộc 268 thôn, 87 xã, phường thuộc các huyện, thành phố nằm trong vùng thiên tai nguy hiểm, trong đó vùng ven biển có 11.059hộ/45.392khẩu. Năm 2009 có 8 điểm dân cư với 446 hộ cần di dời đã được UBND tỉnh phê duyệt dự án với tổng vốn đầu tư 53,527 tỷ đồng, các địa phương đang tập trung hoàn thành trước mùa mưa bão để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân. Mặt khác chuẩn bị phương án kế hoạch chủ động sơ tán dân ra khỏi các vùng nguy hiểm khi xảy ra thiên tai; Tổ chức cắm biển cảnh báo ở những vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở đất, các tuyến đường ngập lụt sâu, nước chảy xiết để toàn dân biết chủ động đề phòng; Tại những nơi có nguy cơ lũ quét cần tổ chức quan trắc, cảnh báo để nhân dân biết chủ động phòng, tránh. *Đảm bảo an toàn cho ngư dân và tàu thuyền: Hiện nay toàn tỉnh có 9.200 tàu thuyền đánh bắt thuỷ sản, trong đó có khoảng 4.500 tàu đánh bắt xa bờ; Đa số tàu thuyền là tàu gỗ cũ, công suất nhỏ, thiếu máy móc thông tin liên lạc; Năng lực, nhận thức của ngư dân hạn chế. Tiến độ xây dựng, cải tạo các bến bãi neo đậu tàu thuyền chậm. Lực lượng, phương tiện tìm kiếm cứu nạn còn thiếu và yếu, việc thông tin liên lạc giữa đất liên với tàu thuyền còn rất hạn chế, nên khi có thiên tai các cơ quan PCLB và TKCN còn rất khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về tàu thuyền và tổ chức hỗ trợ ngư dân đối phó với thiên tai. * Tăng cường năng lực, hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn: Tỉnh đã giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh là cơ quan Thường trực tìm kiếm cứu nạn của Ban chỉ huy PCLB & TKCN tỉnh chuẩn bị lực lượng, bổ sung phương tiện, vật tư, tổ chức và chỉ đạo hoạt động của Văn phòng thường trực TKCN và sở chỉ huy TKCN để tham mưu và phục vụ cho Ban chỉ huy PCLB & TKCN tỉnh trong hoạt động tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn người, phương tiện, công trình. Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng chủ trì phối hợp Sở Nông Nghiệp &PTNT, UBND các huyện ven biển tổ chức công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển. Các cấp, các ngành chủ động tổ chức lực lượng, phương tiện, vật tư phối hợp với Văn phòng thường trực TKCN và sở Chỉ huy TKCN để tham mưu, phục vụ cho Ban chỉ huy PCLB & TKCN các cấp trong công tác tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ người, công trình và thực hiện lệnh điều động khi cần thiết. Để tạo điều kiện giúp địa phương tháo gỡ khó khăn, làm tốt hơn nữa công tác PCLB và TKCN, Ban chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh Bình Định đề nghị các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ vốn và kỹ thuật giúp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ sau: - Xây dựng phương án tổ chức thông tin liên lạc hai chiều giữa đất liền và các tàu cá hoạt động trên biển - Sớm đầu tư kinh phí cho tỉnh triển khai chương trình quốc gia về đê biển từ Quảng Ngãi đến Cà Mau, trong đó có đê biển Bình Định. - Tiếp tục hỗ trợ kinh phí giúp tỉnh sửa chữa nâng cấp các hồ chứa nước và hệ thống đê điều - Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bến bãi neo đậu tàu thuyền theo quy hoạch đã được duyệt tạo điều kiện cho tầu thuyền ra vào sản xuất và trú ẩn an toàn khi có gió bão. - Đẩy nhanh tiến độ tái định cư nhân dân vùng thiên tai. - Tiếp tục trang bị phương tiện, huấn luyện lực lượng cho tỉnh để có thể thực hiện nhanh nhất nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ trên vùng biển ủa tỉnh và lân cận./
|