|
1. Đối với cây lúa a) Lúa vụ 3 (Lúa sạ): + Thời vụ: gieo sạ từ cuối tháng 6 đến 15/7 để đảm bảo thu hoạch cơ bản trong tháng 9, chậm nhất là trước ngày 10/10/2010. + Cơ cấu giống: Giống chủ lực: ĐV 108, VĐ 8, ML 202; Giống bổ sung: ML 214, ML 48, HT 1. Giống sản xuất thử: PC 6, PC 10, VTNA 1, Hậu Giang 2, OM 5464, AS 996... + Mật độ sạ: Sạ lan từ 100 – 120 kg/ha; sạ hàng mật độ 80 kg/ha. + Chăm sóc phòng trừ sâu bệnh: Các giống được bố trí trong cơ cấu sản xuất vụ 3 đa số là những giống ngắn ngày, đồng thời phát triển trong điều kiện thời tiết nắng nóng nên cần tập trung chăm sóc sớm ngay từ đầu vụ: bón phân cân đối đúng qui trình, tạo điều kiện để cây khỏe, sinh trưởng và phát triển tốt, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh cho năng suất cao. Chú ý các đối tượng gây hại lúa vụ 3: Bọ trĩ, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy các loại, bệnh nghẹt rễ, đốm nâu, thối thân, thối bẹ, bệnh khô vằn, bệnh đen lép hạt. b) Lúa mùa gieo khô: + Thời vụ: lúa mùa gieo khô tập trung từ giữa đến cuối tháng 7, kết thúc trước 10/8. Đảm bảo thu hoạch dứt điểm trong tháng 11 để khỏi ảnh hưởng đến sản xuất vụ tiếp sau. + Giống: Chủ yếu sử dụng các giống trung ngày và dài ngày: ĐV 108, VĐ 8, ĐB 6, Q 5. Giống bổ sung: TBR 1, ĐB 1, ĐB 5, Xi 23, ML 202, ML 214, SH 2, BC 15. Giống sản xuất thử: MT 36, CH 207, CH 208. Vùng gieo sạ muộn sau 31/7 sử dụng các giống ngắn ngày: ML 202, ML 214. + Mật độ : Gieo khô từ 160 - 200kg/ha. + Hướng dẫn nông dân tranh thủ khi đất ẩm cày ải, khi có mưa tiến hành làm đất, bón lót 8-10 tấn phân chuồng và xuống giống. Sau gieo từ 15-20 ngày, tiến hành bừa phá váng làm đất thông thoáng để tăng khả năng giữ ẩm, sau mỗi đợt mưa cần bừa phá váng kết hợp với làm cỏ và bón thúc. Chờ khi có mưa lớn, đắp bờ giữ nước tiếp tục chăm sóc, tỉa dặm như lúa sạ. Theo dõi chặt chẽ để phát hiện phòng trừ kịp thời bệnh VLLXL, lùn sọc đen do rầy nâu lan truyền hại lúa. Ngoài ra chú ý các đối tượng sâu bệnh sau: tuyến trùng rễ và bọ trĩ ở thời kỳ đầu vụ; sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân , bọ xít và rầy các loại từ giữa vụ trở đi. 2. Đối với cây trồng cạn a) Cây ngô: - Thời vụ: kết thúc thời vụ trồng trước 15/7; đối với diện tích ngô trên đất lúa gieo trồng từ 25/6-05/7, để thu hoạch tháng 9, tránh gặp mưa lũ cuối vụ. - Sử dụng các giống ngô lai có năng suất cao, thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày như CP 989 ; CP888 ; CP999 ; Bioseed 06, DK171. b) Cây lạc: - Thời vụ: Mở rộng diện tích lạc thu đông để cung ứng giống cho vụ đông xuân. Thời vụ xuống giống kết thúc trước 15/7 để kịp thu hoạch trước thời kỳ cao điểm mưa lũ, hạn chế lạc bị nảy mầm trên ruộng, không làm giống được. - Giống: LDH 01, TB 25, HL 25, Lạc sẻ, Mỏ két. Để khắc phục hiện tượng lạc sản xuất vụ thu đông có nhân nhỏ hoặc không nhân, cần tăng cường lân, kali và bón vôi để cung cấp chất canxi đủ theo yêu cầu của cây. Có thể bón hay phun các loại phân giàu Canxi, Lưu huỳnh, Bo khi cây lạc bắt đầu ra hoa, giúp trái chắc, tăng năng suất, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh trong điều kiện thời tiết bất lợi như khô hạn và trên chân đất cát, đất cát pha... c) Cây đậu tương: - Thời vụ: Kết thúc thời vụ gieo trồng trước ngày 10/7. - Sử dụng các giống MTD 176, PC19, D140, DT200-1, DT 84. d) Cây mía: Ban chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu tiếp tục triển khai các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu mía theo quy hoạch đến năm 2020. Trong đó, UBND các huyện trong vùng quy hoạch phối hợp Công ty cổ phần đường Bình Định tập trung rà soát xây dựng kế hoạch phát triển diện tích mía nguyên liệu cụ thể ở từng xã, thôn phù hợp quy hợp; Chỉ đạo xây dựng vùng thâm canh tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; Mạnh dạn chuyển đổi một số cây trồng kém hiệu quả sang trồng mía nguyên liệu. Công ty Cổ phần đường Bình Định cùng các Tổ công tác phát triển vùng nguyên liệu mía tỉnh tiếp tục phối hợp chính quyền địa phương tăng cường phổ biến chính sách đầu tư vụ trồng năm 2009 – 2010 của Công ty đường Bình Định để nông dân biết, đồng thời chủ động phối hợp với các cấp chính quyền, đoàn thể ở địa phương để chỉ đạo, vận động nông dân tham gia trồng mía, từng bước ổn định và mở rộng vùng nguyên liệu mía, đảm bảo cung ứng đủ nguyên liệu cho chế biến. Các địa phương cần quan tâm hỗ trợ Công ty CP Đường Bình Định thuê đất trực tiếp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu mía, ưu tiên thuê diện tích đất tương đối tập trung, có điều kiện đầu tư xây dựng thủy lợi, giao thông và thâm canh sản xuất mía nguyên liệu; khảo nghiệm bổ sung giống mới và SX đủ giống tốt cho sản xuất. Công ty CP đường chủ động phối hợp với Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư, các địa phương triển khai xây dựng mô hình, khảo nghiệm giống, cải tiến quy trình phù hợp với từng chân đất và điều kiện canh tác của từng vùng. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúngđể đưa nhanh các thông tin chính sách, giá cả và kỹ thuật thâm canh đến người dân. e) Cây sắn: Hiện nay, do nắng nóng nên một số vùng diện tích trồng sắn gặp khó khăn về nguồn giống, đất không đủ ẩm nên khả năng diện tích, năng suất sắn giảm so với cùng kỳ. Cần tập trung hướng dẫn nông dân tranh thủ các đợt mưa để mở rộng diện tích trồng sắn rải vụ, nhất là những chân cao. Những diện tích chân cao, dễ thoát nước nếu không trồng sắn được vào đợt Tiểu mãn có thể chờ mưa trồng vào tháng 8 để thu hoạch vào tháng 5–6 năm sau. Đối với diện tích vùng nguyên liệu sắn, tập trung hướng dẫn nông dân trồng sắn thâm canh, phát triển trồng xen cây trồng khác với sắn để tăng năng suất và đảm bảo độ phì, hạn chế thoái hóa, bạc màu đất./. |