|
Hiện nay, lúa đông xuân đại trà chân 2 vụ đang vào chắc-chín, tình hình sâu bệnh còn diễn biến phức tạp. Sở NN&PTNT đề nghị các địa phương tiếp tục tập trung chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh và khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân chân 2 vụ, đảm bảo năng suất đạt cao nhất. Do ảnh hưởng của Elnino, nắng nóng kéo dài, lượng nước ở các hồ chứa và lưu lượng ở các sông xuống thấp so với cùng kỳ nhiều năm. Vụ hè thu năm nay khả năng bị thiếu hụt lượng nước tưới và xảy ra hạn hán trên diện rộng; bên cạnh đó tình hình diễn biến các loại sâu bệnh hại lúa rất phức tạp, khó lường. Để chủ động ứng phó tình hình hạn hán, hạn chế tác động của dịch bệnh đến sản xuất, ngay từ đầu vụ bà con nông dân cần tích cực thực hiện các giải pháp kỹ thuật đúng theo tinh thần chỉ đạo và chủ trương, giải pháp sản xuất vụ hè thu năm 2010 của tỉnh. Cụ thể là: 
Chăm sóc lúa hè thu 2010 ở Hoài Nhơn I. Đối với vụ hè 2010 1/ Đối với lúa vụ hè 2010 (chân 3 vụ/năm) Lúa hè sớm hiện đang ở giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh, lúa hè đại trà giai đoạn 5 – 7 lá. Do trời nắng nóng kéo dài nên ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa và tạo điều kiện cho một số loại sâu bệnh phát sinh gây hại mạnh. Để giúp cây lúa sinh trưởng phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu tình hình thời tiết bất lợi và sâu bệnh, bà con nông dân cần tập trung chăm sóc lúa ngay từ đầu vụ theo đúng qui trình kỹ thuật của từng giống lúa, phù hợp điều kiện của mỗi chân ruộng. - Thường xuyên thăm đồng, kiểm tra và theo dõi thông báo tình hình phát sinh, hướng dẫn biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại của Chi cục Bảo vệ thực vật trên các phương tiện thông tin đại chúng để triển khai công tác phòng trừ các loại sâu bệnh hại kịp thời, đúng kỹ thuật, đạt hiệu quả cao. Các loại sâu bệnh hại quan trọng đối với lúa hè giai đoạn 5,7 lá thật – đẻ nhánh là: Bọ trĩ, đốm nâu, vàng lá, thối thân thối bẹ, tuyến trùng rễ. Cần lưu ý theo dõi để phòng trừ kịp thời các diện tích có mật độ rầy nâu tăng cao cục bộ, có nguồn từ diện tích lúa đông xuân vừa thu hoạch xong di chuyển sang gây hại lúa hè. - Tập trung chăm sóc, bón phân thúc đúng qui trình kỹ thuật cho diện tích lúa hè giai đoạn đẻ nhánh. Tăng cường sử dụng các loại phân bón lá, kích thích sinh trưởng giàu vi lượng, để cung cấp bổ sung cho lúa. Nên áp dụng kỹ thuật bón phân theo bảng so màu lá lúa để hạn chế việc bón thừa đạm, là điều kiện thích hợp cho các loại sâu bệnh hại phát sinh như: rầy nâu, bệnh thối thân, thối bẹ, bệnh khô vằn. + Những ruộng lúa bị nhiễm phèn mặn cần áp dụng các biện pháp rửa phèn mặn tích cực, không để ruộng bị cạn nước, đồng thời bón phân đúng qui trình kỹ thuật, sử dụng hợp lý các loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng giàu vi lượng, bổ sung các chất kích thích ra rễ nhằm giúp cho cây lúa phục hồi và sinh trưởng tốt, hạn chế hiện tượng đốm nâu, vàng lá trên lúa. + Giữ nước trong ruộng ở mức 3 – 5 cm trong giai đoạn lúa nhỏ để hạn chế tác động của nắng nóng đến sinh trưởng phát triển của cây lúa. 2/ Đối với cây trồng cạn: Do tình hình thời tiết nắng nóng, ít mưa, nguồn nước tưới cho sản xuất khó khăn nên cần tích cực làm cỏ, bón phân, chăm sóc theo đúng qui trình kỹ thuật, đồng thời chú ý phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh hại, đảm bảo cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nắng nóng. II. Đối với sản xuất vụ thu 2010 1. Chuẩn bị đất trước khi gieo sạ: Sau khi thu hoạch xong lúa đông xuân, thực hiện tốt công tác vệ sinh đồng ruộng, xử lý tàn dư cây bệnh, cỏ dại; trước khi gieo sạ lúa vụ thu, nhất là những diện tích lúa bị nhiễm nặng rầy nâu, đạo ôn, sâu keo. Nên cày kỹ, cày ngâm hoặc cày ải để tiêu diệt mầm mống sâu bệnh, cỏ dại tồn tại trên tàn dư rơm rạ, phát sinh gây hại lúa vụ sau. Đất có mặt bằng cày bừa nhuyễn giúp hạn chế cỏ, lúa mọc đều, giảm chi phí tỉa dặm, tăng hiệu lực thuốc trừ cỏ. Xử lý thuốc cỏ sớm (tiền nảy mầm hoặc hậu nảy mầm sớm) hoàn thành trước 20 ngày sau khi sạ. Tùy đối tượng cỏ trong ruộng mà dùng loại thuốc cho phù hợp . 2. Về giống lúa sản xuất trong vụ thu 2010: + Giống chủ lực: ĐV 108, ĐB 6, VĐ 8, NHỊ ƯU 838 + Giống bổ sung: Q5, ĐB 1, ĐB 5, Xi 23, SH 2, BC 15, BTE 1, N.ưu 69, BiO 404, D.ƯU 527. + Giống sản xuất thử: MT 36, DH 46 – 1, DH 46 – 2, OM 6162, AS 996, VTNA 1, Hương cốm 1, TP 5, Q.Hương 5, ARIZE-XL, TH3-3. *Những giống lúa loại bỏ khỏi cơ cấu giống của tỉnh không được sản xuất, kinh doanh, sử dụng tại Bình Định: Ải 32, KD 18, IR 13-2 . 3. Về thời vụ gieo sạ: Thực hiện gieo sạ đồng loạt từng vùng, từng cánh đồng theo lịch gieo sạ chung của địa phương. Đối với vụ thu (chân 2 vụ/năm) bố trí gieo sạ (sau tiết Tiểu mãn) từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, cho lúa trỗ sau tiết lập thu (sau 07/8). 4. Chăm sóc lúa giai đoạn đầu: Triển khai rộng rãi chương trình 3 giảm 3 tăng. Trọng tâm là: - Giảm mật độ sạ nhằm tiết kiệm giống, hạn chế sâu bệnh, chống đổ ngã, tiết kiệm được phân bón, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa. Có biện pháp mở rộng phương pháp sạ hàng với mật độ 70 kg/ha; mật độ sạ lan 100- 120 kg/ha. - Giảm lượng đạm trên một đơn vị diện tích, thực hiện bón phân cân đối hợp lý, tăng cường sử dụng phân chuồng, các chất điều hoà sinh trưởng, phân bón qua lá để cây lúa sinh trương phát triển tốt, tăng sức đề kháng với sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất lợi. - Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, sử dụng thuốc theo phương pháp 4 đúng. Thực hiện giám sát sâu bệnh từ cơ sở gắn với củng cố các đội BVTV ở các HTX NN để tăng hiệu quả về công tác phòng trừ sâu bệnh. 5. Về phòng trừ sâu bệnh: Trong vụ hè thu cần chú ý một số đối tượng sâu bệnh như: Sâu đục thân 2 chấm, Rầy nâu, rầy lưng trắng, Bọ trĩ, Sâu năn, Chuột, Bệnh đốm nâu, vàng lá, Bệnh khô vằn, Bệnh lem lép hạt. Tích cực chủ động phòng trừ theo đúng hướng dẫn của Chi cục BVTV, Trạm BVTV. III/ Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong điều kiện thiếu nước: Khoanh vùng chuyển diện tích đất lúa ở những vùng thiếu nước sang trồng cây trồng cạn ở những vùng thích hợp, nhất là chân đất chuyển đổi sản xuất 2 lúa, 1 màu đã xây dựng mô hình thành công; ưu tiên cho các cây trồng ngô, lạc, đậu tương. Nhất là sản xuất lạc vụ thu đông, tạo cơ sở chủ động giống lạc cho sản xuất vụ đông xuân và nâng cao hiệu quả sản xuất. -Vùng có đủ nước tưới bố trí gieo trồng lúa. -Vùng khó khăn, bấp bệnh về nước tưới nhưng có điều kiện khai thác nguồn nước tại chỗ (bơm tát, giếng khoan, ...) để tưới bổ sung: chuyển trồng ngô lai, đậu tương, lạc ở những chân đất cao thoát nước tốt, thành phần cơ giới nhẹ. - Vùng thiếu nước ngay từ đầu vụ nhưng có khả năng tạo nguồn, khai thác nước tại chỗ để tưới bổ sung: bố trí trồng các loại cây trồng có khả năng chịu han, thời gian sinh trưởng ngắn (70 - 80 ngày), tiêu tốn ít nước như vừng, đậu xanh và đậu đỗ, rau màu các loại. Sau đó sản xuất lúa vụ 3 hoặc lúa mùa gieo khô. IV/ Giải pháp thuỷ lợi trong điều kiện hạn hán thiếu nước: - Tăng cường kiểm tra nguồn nước, sửa chữa các công trình thủy lợi nhất là các hồ chứa, nạo vét kênh mương bảo đảm dẫn nước thông suốt, không để xảy ra mất nước hoặc ách tắc nước từ kênh mương. - Sử dụng nước tiết kiệm, những nơi có điều kiện tận dụng nguồn nước ở sông, suối, ao, hồ tự nhiên để tưới cho cây trồng; nhất là tiết kiệm nước ở các hồ chứa để tưới vào cuối vụ Hè thu và vụ sau. Đề phòng hạn vào cuối vụ hè thu và đầu vụ mùa. - Chỉ đạo củng cố dịch vụ thủy nông nội đồng của các HTX NN, củng cố các đơn vị quản lý, khai thác các công trình TL của Công ty KTCTTL và hệ thống quản lý thủy nông của các địa phương - UBND các huyện, TP chỉ đạo các đơn vị quản lý khai thác các công trình do địa phương quản lý củng cố và tạo điều kiện cho các tổ dịch vụ thủy nông nội đồng bảo đảm dẫn nước kịp thời phục vụ sản xuất. - Tạo nguồn nước tại chỗ để chống hạn: Đắp đập bổi, đào ao, khoan giếng, lắp thêm trạm bơm để sử dụng nguồn nước bổ sung tại chỗ phục vụ sản xuất. - Chuẩn bị phư¬ơng án, thiết bị, nhiên liệu và nhân lực để chống hạn. Kiểm tra, khôi phục các ao, giếng khoan đã có trước đây để phục vụ tư¬ới và chống hạn. Trong việc bơm, tát phục vụ t¬ới cần theo dõi chú ý việc hạ mực n¬ớc ngầm gây mất nư¬ớc phục vụ sinh hoạt và xâm nhập mặn (ở các vùng ven biển, ven đầm). V/ Chính sách: Ngoài chính sách hỗ trợ của tỉnh (hỗ trợ 50% giá giống đối với sản xuất lúa lai), đề nghị UBND các huyện-TP chủ động xem xét ban hành chính sách hỗ trợ , nhất là giống lúa lai để đẩy mạnh mở rông diện tích sản xuất lúa lai trong vụ thu góp phần tăng năng suất, sản lượng lương thực của tỉnh; hỗ trợ kinh phí đào ao, khoan giếng, bơm tát cho nông dân để chống hạn và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Sở Nông nghiệp & PTNT đề nghị UBND các huyện, các ngành, các hội đoàn thể các cấp, các cơ quan thông tin tuyên truyền tăng cường phối hợp chỉ đạo, vận động nông dân thực hiện vụ sản xuất hè thu đạt kết quả cao nhất./. |